CURSILLO VIETNAM AU CHAU

 

"Giáo huấn là một hình thức Phúc Âm hóa"
Các công trình bác ái "khuyên nhủ người nghi vấn và giáo huấn người dốt nát" (toàn văn)


Triều kiến chung tại Phòng Phaolô VI

23 NOVEMBRE 2016 - CONSTANCE ROQUES - PAPE FRANÇOIS
Giáo huấn là "một hình thức đặc biệt của Phúc Âm hóa", Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã khẳng định trong buổi triều kiến chung ngày 23/11/2016 trong hội trường Phaolô VI tại điện Vatican. Ngài đã ca ngợi mọi Kitô hữu đã "cống hiên đời mình trong việc giáo dục" và góp phần "trả lại phẩm giá của những người nghèo".
Đức Giáo Hoàng đã tiếp tục các Bài giáo lý của ngài về những công trình lòng thương xót và dừng lại trên đề tài : "khuyên nhủ những ai nghi vấn và dạy dỗ những người dốt nát". "Ở một thế giới mà những tiến bộ khoa học kỹ thuật đã đạt tới mức cao như bây giờ, vẫn còn những trẻ em mù chữ ! Đó là một sự bất công, ngài tố cáo (…) Không có giáo huấn, người ta dễ trở thành mồi ngon của sự khai thác và nhiều những hình thức bất ổn xã hội".
Ngài cũng đã suy niệm về sự nghi vấn, mà mỗi người đều có thể cảm nhận : "Những nghi vấn liên quan đến đức tin, trên chiều hướng tích cực, là một dấu chỉ chúng ta đang muốn hiểu biết thêm và cặn kẽ về Thiên Chúa, Chúa Giêsu và mầu nhiệm tình yêu của Người đối với chúng ta. Những nghi vấn này làm cho người ta lớn lên ! Như thế, thật là một điều tốt lành khi chúng ta đặt những câu hỏi về đức tin của chúng ta, bởi vì như vậy, chúng ta sẽ được thúc đẩy đào sâu thêm về đức tin".
Để vượt qua những nghi vấn, Đức Giáo Hoàng đã khuyên nhủ hãy nghe Lời Thiên Chúa và "sống đức tin hết sức mình" : "Chúng ta đừng khiến cho đức tin trở thành một lý thuyết trừu tượng trong đó sinh ra nhiều nghi vấn. Thay vào đó, chúng ta hãy làm cho đức tin trở thành đời sống của chúng ta. Chúng ta hãy tìm cách thực hành đức tin trong sự phục vụ anh em chúng ta, nhất là những người nghèo khổ nhất. Và lúc đó, nhiều nghi vấn sẽ biến mất".
AK
Bài giáo lý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô
Thân chào quý anh chị em !
Năm Thánh đã bế mạc, hôm nay chúng ta trở về đời sống bình thường, nhưng vẫn còn một số suy nghĩ về các công trình lòng thương xót và như thế, chúng ta tiếp tục về đề tài này.
Sự suy nghĩ về các công trình lòng thương xót tinh thần, hôm nay, liên quan đến hai công tác gắn chặt với nhau. Đó là : khuyên nhủ những ai nghi vấn và dạy dỗ những người dốt nát, nghĩa là những người không hiêu biết. Từ ngữ "dốt nát" có vẻ quá mạnh, nhưng nó có nghĩa là những người không hiểu biết một điều gì đó và cần phải được giáo huấn. Đó là những công trình cụ thể tồn tại trong một chiều kích đơn giản, quen thuộc, gần gũi với tất cả mọi người, hay là, đặc biệt công tác thứ nhì, công tác giáo huấn, trên một bình diện mang tính thể chế hơn, có tổ chức hơn. Thí dụ, chúng ta hãy nghĩ tới tất cả những trẻ em còn đang bị nạn mù chữ. Điều này không thể hiểu được : Ở một thế giới mà những tiến bộ khoa học kỹ thuật đã đạt tới mức cao như bây giờ, vẫn còn những trẻ em mù chữ ! Đó là một sự bất công. Biết bao trẻ em còn đang ở trong điều kiện thiếu giáo dục ! Đó là một tình trạng bất công to lớn xúc phạm đến cả phẩm giá con người. Không có giáo dục, người ta dễ trở thành miếng mồi ngon của sự khai thác và nhiều những hình thức bất ổn xã hội.
Suốt nhiều thế kỷ, Giáo Hội đã cảm thấy sự đòi hỏi phải dấn thân vào lãnh vực giáo dục, bởi vì sứ vụ Phúc Âm hóa bao gồm sự cam kết phải đem lại phẩm giá cho những người nghèo khổ nhất. Từ thí dụ đầu tiên của một "trường học" được dựng lên ngay tại Rôma đây bởi thánh Justinô, vào thế kỷ thứ hai, để những Kitô hữu hiểu biết hơn về Thánh Kinh, tới thánh Giuse Calasanz,  là người đã mở ra những trường học bình dân miễn phí đầu tiên của Châu Âu, chúng ta có một danh sách dài các thánh nam, nữ, ở những thời đại khác nhau, đã mang giáo dục tới cho những người bị thiệt thòi nhất, biết rằng qua con đường này, họ sẽ vượt lên khỏi sự khốn cùng và những kỳ thị. Biết bao người Kitô hữu, giáo dân, các anh chị em tu sĩ, các linh mục đã cống hiến đời mình cho giáo dục, cho đào tạo trẻ em và thanh thiếu niên ! Đó là điều vĩ đại; tôi mời gọi anh chị em hãy tỏ lòng tôn kính họ bằng một tràng pháo tay. [cử tọa vỗ tay]. Những người tiên phong trong giáo dục đã hiểu rõ công trình lòng thương xót và đã biến nó thành một lối sống đến độ làm biến đổi ngay cả xã hội. Qua một việc làm đơn giản và có ít cấu trúc, các vị đã biết trả lại phẩm giá cho một số đông người. Và nền giáo dục các vị cống hiến thường hay hướng về lao động. Nhưng chúng ta hãy nghĩ tới thánh Gioan Bosco, là đấng đã chuẩn bị các trẻ em đường phố đi vào lao động với thuyết giảng và sau đó với các trường học, các văn phòng. Chính như thế mà nhiều trường dậy nghề khác đã mọc lên để chuẩn bị cho lao động trong lúc vẫn giáo huấn các giá trị nhân bản và Kitô giáo. Giáo dục, vì vậy, thực sự là một hình thức đặc biệt của Phúc Âm hóa.
Giáo dục càng phát triển, người ta càng lãnh hội được những điều xác thực và một lương tâm, mà tất cả chúng ta đều cần có trong đời. Một nền giáo dục tốt dạy cho chúng ta phuơng pháp phê phán cũng bao gồm một kiểu nghi vấn, hữu ích để đặt những câu hỏi nhằm kiểm chứng các kết quả đạt được, hướng tới một sự hiểu biết rộng lớn hơn. Nhưng công trình lòng thương xót nhằm khuyên nhủ những ai nghi vấn không liên quan đến kiểu nghi vấn này. Biểu lộ lòng thương xót đối với những người nghi vấn, trái lại, tương đương với việc làm giảm đi nỗi đau và nỗi khổ đến từ sự sợ hãi và lo âu, vốn là những hậu quả của sự nghi vấn. Như vậy, đây là một hành động tình yêu đích thực, qua đó người ta muốn nâng đỡ một người trong sự yếu đuối của họ gây ra bởi sự bấp bênh.
Tôi nghĩ, người ta có thể hỏi tôi : "Thưa Cha, con có rất nhiều những nghi vấn về đức tin, con phải làm gì ? Cha không bao giờ có nghi vấn hết sao ?". Tôi có nhiều lắm… Chắc chắn rằng ở một lúc nào đó, mọi người đều có những nghi vấn. Những nghi vấn liên quan đến đức tin, trên chiều hướng tích cực, là một dấu chỉ chúng ta muốn hiểu biết nhiều hơn, sâu hơn về Thiên Chúa, và mầu nhiệm tình yêu của Người đối với chúng ta. "Nhưng con, con có nghi vấn này : con đi tìm, con học hỏi, con thấy, hay con hỏi ý kiến về cách phải làm". Những nghi vấn đó làm cho ta lớn lên ! Như vậy, thật là một điều tốt lành khi chúng ta đặt những câu hỏi về đức tin của chúng ta, bởi vì như vậy, chúng ta sẽ được thúc đẩy đào sâu thêm về đức tin. Tuy nhiên, các nghi vấn phải được vượt qua. Để được vậy, cần phải lắng nghe Lời của Thiên Chúa và hiểu được điều Người dạy dỗ chúng ta. Một đường lối quan trọng giúp ích nhiều trong việc này là con đường giáo lý, qua đó sự loan truyền đức tin đến với chúng ta trong sự cụ thể của đời sống riêng tư và cộng đồng. Đồng thời, còn có một con đường khác cũng quan trọng, đó là con đường sống đức tin hết sức mình. Chúng ta đừng biến đức tin thành một lý thuyết trừu tượng trong đó sinh ra nhiều nghi vấn. Thay vào đó, chúng ta hãy làm cho đức tin trở thành đời sống của chúng ta. Chúng ta hãy tìm cách thực hành đức tin trong sự phục vụ anh em chúng ta, nhất là những người nghèo khổ nhất. Và lúc đó, nhiều nghi vấn sẽ biến mất, bởi vì chúng ta cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa và sự thật của Phúc Âm trong tình yêu, cho dù chúng ta chẳng có công trạng gì, vẫn luôn ở trong chúng ta và chúng ta chia sẻ với người khác.
Thưa quý anh chị em, như người ta có thể thấy, hai công trình lòng thương xót này cũng không xa vời với đời sống chúng ta. Mỗi người trong chúng ta có thể dấn thân để sống chúng và mang ra thực hành lời Chúa khi Người phán rằng mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa đã không được mặc khải cho những người khôn ngoan thông thái mà đã mặc khải cho những người bé mọn (x. Lc 10, 21; Mt 11, 25-26). Vì vậy, giáo huấn sâu xa nhất mà chúng ta được kêu gọi truyền bá và sự xác thực đáng tin cậy nhất để thoát ra khỏi nghi vấn, là tình yêu của Thiên Chúa, nhờ đó mà chúng ta được Người yêu thương (x. Ga 4, 10). Một tình yêu cao cả, nhưng không và được ban cho đời đời. Thiên Chúa không bao giờ lùi bước với tình yêu của Người ! Người luôn tiến tới phía trước và người chờ đợi; Người ban tình yêu của Người mãi mãi, và chúng ta phải cảm thấy mãnh liệt tinh thần trách nhiệm về tình yêu đó, để làm chứng nhân cho tình yêu đó bằng cách cống hiến lòng thương xót của chúng ta cho các anh em của chúng ta. Cảm ơn.
Bản dịch tiếng Pháp : Constance Roques (Zenit)
Mạc Khải dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit
https://fr.zenit.org/articles/linstruction-est-une-forme-particuliere-devangelisation-catechese-integrale/

 


Cửa Thánh đã đóng nhưng
Cửa Lòng Thương Xót vẫn mở

Nghi thức đóng Cửa Thánh tại Đền Thánh Phêrô bế mạc Năm Thánh

20 NOVEMBRE 2016 - ANNE KURIAN - PAPE FRANÇOIS
Đóng Cửa Thánh
Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã long trọng đóng Cửa Thánh tại Đền Thánh Phêrô, bế mạc Năm Thánh Lòng Thương Xót, vào lúc 10 giờ sáng ngày 20/11/2016. Nhưng cửa lòng thương xót vẫn rộng mở, ngài khẳng định trong bài giảng của ngài.
Trong Lễ Chúa Kitô Vua Hoàn Vũ, Đức Giáo Hoàng đã bế mạc Năm Thánh Lòng Thương Xót, được khai mạc một năm trước đây, vào ngày 08/12/2015. Đầu Thánh Lễ chúa nhật trên quảng trường Thánh Phêrô, ngài đã chủ sự lễ nghi đóng lại Cửa Thánh trước sự hiện diện của khoảng chừng 70.000 người.
Sau khi khẩn cầu Thiên Chúa Ba Ngôi và lòng thương xót đời đời của Người cũng như một kinh tạ ơn cho năm vừa qua, Đức Giám Mục Rôma đã suy niệm trước Khung Cửa đã có hàng triệu người bước qua. Rồi ngài đã long trọng đóng lại hai cánh cửa, trong im lặng.
Một vị phụ lễ sau đó đã tuyên bố : "Thưa anh chị em, Cửa Thánh đã đóng lại theo đúng lễ nghi, nhưng, nguồn mạch bất tận ơn phúc và lòng thương xót vẫn mở ra cho chúng ta"
"Dù rằng Cửa Thánh đã đóng lại, Đức Giáo Hoàng khẳng định trong bài giảng lễ của ngài, cánh cửa đích thực của lòng thương xót vẫn luôn rộng mở ra cho chúng ta, là Thánh Tâm Đức Kitô. Từ bên ngực bị đâm thủng của Chúa Phục Sinh tuôn chảy ra cho đến ngày tận thế, lòng thương xót, sự an ủi và niềm hy vọng".
Đức Giáo Hoàng đã mời gọi hãy tiếp tục con đường đã đi trong Năm Thánh : "Chúng ta hãy cầu xin ơn đừng bao giờ đóng cửa của sự hòa giải và sự tha thứ, mà phải biết vượt lên trên điều ác và những bất đồng, mở ra mọi con đường hy vọng có thể. Cũng như Thiên Chúa đã tin vào chúng ta, vô cùng xa hơn những công đức của chúng ta, chúng ta cũng được kêu gọi hãy lan tỏa ra niềm hy vọng và cho người khác cơ hội của họ".

https://fr.zenit.org/articles/la-porte-sainte-se-ferme-mais-la-source-de-la-misericorde-demeure-ouverte/

 

Vương quyền của Đức Kitô
"Quyền phép duy nhất của tình yêu"

Bài giảng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong lễ bế mạc Năm Thánh (toàn văn)

20 NOVEMBRE 2016 - RÉDACTION PAPE FRANÇOIS
Thánh Lễ bế mạc Năm Thánh
Chúa Giêsu đã trở thành "Quốc Vương muôn đời, Chủ Tể lịch sử", chỉ bằng "độc nhất uy quyền của tình yêu", Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã xác quyết trong ngày lễ trọng kính Đức Kitô Vua Hoàn Vũ, ngày 20/11/2016. Một "chiến thắng đặc biệt" đã "biến tội lỗi thành ơn phúc, cái chết thành phục sinh, sợ hãi thành tin tưởng". Thánh Lễ chúa nhật, trên quảng trường Thánh Phêrô, trước sự hiện diện của khoảng 70.000 người, cũng đánh dấu sự bế mạc Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Trong bài giảng của ngài, Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh rằng vương quyền của Chúa Giêsu là "ngược đời" : "ngai vàng của Người chính là thập giá; triều thiên của Người là mão gai, Người không có vương trượng mà là một cây sậy đã được đặt vào tay Người; Người không mang hoàng bào lộng lẫy mà Người đã bị lột tấm áo một mảnh của Người; Người không có nhẫn đeo tay sáng chói mà có hai bàn tay bị đinh sắt xuyên qua; Người không có kho báu mà đã bị bán đi chỉ với 30 đồng bạc"
"Sự vĩ đại của vương quốc của Người, ngài giải thích, không phải là uy quyền theo thế gian mà là tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu có khả năng theo kịp và chữa lành mọi chuyện". Đức Giáo Hoàng lúc đó đã kêu gọi hãy "để cho Người trở thành Chủ Tể cuộc đời chúng ta : tất cả điều này là vô ích nếu chúng ta không đích thân đón tiếp Người và nếu chúng ta cũng không đón nhận cách hiển trị của Người".
AK
Bài giảng lễ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô
Lễ trọng kính Chúa Giêsu Kitô là Vua Hoàn Vũ khánh thành Năm Phụng Vụ cũng như Năm Thánh Lòng Thương Xót này. Phúc Âm quả đã trình bầy vương quyền của Chúa Giêsu trên đỉnh của công trình cứu độ của Người, và Người đã làm một cách đáng ngạc nhiên. "Đấng Mêsia của Thiên Chúa, Đấng được tuyển chọn, Đấng là Vua" (Lc 23, 35.37) xuất hiện như không có uy quyền và không vinh quang : Người ở trên cây thập tự giá và có vẻ là thua trận hơn là thắng trận. Vương quyền của Người là ngược đời : ngai vàng của Người chính là thập giá; triều thiên của Người là mão gai, Người không có vương trượng mà là một cây sậy đã được đặt vào tay Người; Người không mang hoàng bào lộng lẫy mà Người đã bị lột tấm áo một mảnh của Người; Người không có nhẫn đeo tay sáng chói mà có hai bàn tay bị đinh sắt xuyên qua; Người không có kho báu mà đã bị bán đi chỉ với 30 đồng bạc.
Thật ra vương quốc của Chúa Giêsu không ở thế gian này (x. Ga 18, 36); mà nơi Người, như thánh Phaolô Tông Đồ đã nói với chúng ta trong bài đọc thứ hai, chúng ta tìm được sự cứu độ và sự tha thứ (x. Cl 1, 13-14). Vì tính cao cả của sự hiển trị của Người không phải là quyền lực theo thế gian mà là tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu có khả năng theo kịp và chữa lành mọi chuyện. Qua tình yêu đó, Đức Kitô đã hạ mình xuống tới tận chúng ta, Người đã trú ngụ nơi sự khốn cùng của loài người, Người đã trải nghiệm kiếp sống khốn cùng nhất của chúng ta là : bất công, phản bội, ruồng bỏ; Người đã trải nghiệm cái chết, mồ chôn, luyện ngục. Bằng cách đó, vị Vua của chúng ta đã đi đến tận cùng những giới hạn của hoàn vũ để ôm lấy và cứu độ mọi sinh vật. Người đã không kết án chúng ta, Người cũng không chinh phục chúng ta, Người đã không bao giờ vi phạm tự do của chúng ta, mà Người đã vạch con đường với tình yêu khiêm nhường tha thứ tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả (x. 1Cr 13, 7). Chỉ có tình yêu đó đã chiến thắng và tiếp tục chiến thắng những địch thủ lớn mạnh của chúng ta là : tội lỗi, tử vong, sợ hãi.
Anh chị em thân mến, hôm nay chúng ta tuyên xưng sự thắng lợi đặc biệt này, qua đó Chúa Giêsu đ trở thành Quốc Vương muôn đời, Chủ Tể lịch sử : chỉ bởi quyền phép của tình yêu vốn là bản thể của Thiên Chúa, là sự sống của Người, vốn không hề chấm dứt (x. 1Cr 13,8). Với niềm vui chúng ta cùng chia sẻ cái tốt đẹp có được Chúa Giêsu là Vua của chúng ta : Vị Chủ Tể tình yêu biến đổi tội lỗi thành ơn phúc, cái chết thành phục sinh, sợ hãi thành tin tưởng.
Nhưng quả thật là vẫn còn quá ít, nếu chỉ tin rằng Chúa Giêsu là Vua hoàn vũ và là trung tâm của lịch sử mà không làm cho Người trở thành Chủ Tể của đời sống chúng ta : tất cả điều này là vô ích nếu chúng ta không đích thân đón tiếp Người và nếu chúng ta cũng không đón nhận cách hiển trị của Người. Các nhân vật mà bài Phúc Âm hôm nay trình bầy cho chúng ta giúp chúng ta trong việc này. Ngoài Chúa Giêsu ra, có ba hình ảnh tháp tùng Người : dân chúng đứng nhìn, nhóm người ở gần thập giá và một kẻ tội phạm bị đóng đinh gần Chúa Giêsu.
Trước tiên là Dân Chúng : Phúc Âm nói rằng họ "đứng nhìn" (Lc 23,35) : không ai nói lên điều gì, không ai tới gần. Dân chúng ở xa, họ nhìn xem chuyện gì đang xẩy ra. Cũng là dân chúng đó, khi cần đến Người, thì họ kéo nhau tới xung quanh Chúa Giêsu, và bây giờ họ lại giữ khoảng cách. Đứng trước những cảnh huống của cuộc đời hay trước những đợi chờ không thực hiện được, chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng có thể có cám dỗ giữ khoảng cách đối với vương quyền của Chúa Giêsu, hoàn toàn không chấp nhận tình yêu khiêm nhượng của Người, làm cho cái tôi lo sợ, làm rộn cái tôi. Ta muốn đứng sau cửa sổ, đứng riêng ra thay vì tới gần và trở thành gần gũi. Nhưng dân thánh, có Chúa Giêsu là Vua, được kêu gọi đi theo con đường tình yêu cụ thể; tự hỏi chính mình, mỗi người và mọi ngày : "Tình yêu đòi hỏi tôi điều gì, nó đẩy tôi đi đâu ? Tôi phải đáp trả Chúa Giêsu như thế nào bằng đời sống của tôi ?"
Có một nhóm bao gồm nhiều người ; những người thủ lãnh dân chúng, những lính tráng và một người tội phạm. Tất cả những người này chế nhạo Chúa Giêsu. Họ nói với Người lời khiêu khích : "Hãy tự cứu lấy mình đi !" (x. Lc 23, 35.37.39). Đây là cám dỗ tệ hại hơn cả cám dỗ của dân chúng. Ở đây, họ cám dỗ Chúa Giêsu như ma quỷ đã làm ở phần đầu Phúc Âm (x. Lc 4, 1-13), để Người từ bỏ sự hiển trị theo cách cûa Thiên Chúa mà làm theo cái lôgic của thế gian : bước xuống khỏi cây thánh giá và đánh bại quân thù của Người ! Nếu Người là Thiên Chúa, thì Người hãy tỏ quyền uy của Người và sự cao trọng của Người ! Cám dỗ này là một sự tấn công trực tiếp vào tình yêu : "Hãy tự cứu mình đi" (c. 37. 36); không phải cứu người khác mà cứu lấy chính mình. Đưa cái tôi của Người lên hàng đầu, với sức mạnh của Người, với vinh quang của Người, với thành công của Người. Đây là sự cám dỗ đáng sợ nhất, cám dỗ đầu tiên và cám dỗ sau cùng của Phúc Âm. Nhưng đối mặt với sự tấn công này chống lại cách sống của Người, Chúa Giêsu không phán ra lời nào, không phản ứng gì cả. Người không tự vệ, Người không tìm cách thuyết phục, Người không làm một thứ biện giải cho vương quyền của Người. Thay vào đó, Người tiếp tục yêu thương, Người tha thứ, Người sống khoảnh khắc thử thách theo thánh ý Chúa Cha, xác tín rằng tình yêu sẽ mang lại hoa trái.
Để đón nhận vương quyền của Chúa Giêsu, chúng ta được kêu gọi hãy chiến đấu chống lại cái cám dỗ này, hãy nhìn thẳng lên cây Thánh Giá, để trở nên luôn luôn trung thành với Thánh Giá. Biết bao lần, cũng ở giữa chúng ta, những sự an toàn mang tính trấn an do thế gian cống hiến đã được chúng ta tìm kiếm. Biết bao lần chúng ta chẳng đã bị cám dỗ bước xuống khỏi cây thập giá. Sức thu hút của uy quyền và sự thành công đã dường như là con đường dễ dàng để loan truyền Phúc Âm, mà quên đi quá nhanh phương cách tác động của sự hiển trị của Thiên Chúa. Năm Thánh Lòng Thương Xót này đã kêu gọi chúng ta hãy tái khám phá điểm trung tâm, hãy trở lại với điều cốt lõi. Thời gian của lòng thương xót này kêu gọi chúng ta hãy nhìn lên khuôn mặt thật của Đức Vua chúng ta, khuôn mặt đã chói sáng trong ngày Phục Sinh, và hãy tái khám phá khuôn mặt trẻ trung và tươi đẹp của Giáo Hội chói sáng khi Giáo Hội mang tính đón nhận, tự do, trung thành, nghèo nàn về phương tiện, nhưng giầu có về tình yêu, giầu có sứ vụ truyền giáo. Lòng thương xót , khi đưa chúng ta tới trung tâm của Phúc Âm, cũng khuyên nhủ chúng ta hãy từ bỏ những thói quen và những tập quán có thể ngăn cản tác động của sự hiển trị của Thiên Chúa, hãy chỉ tìm phương hướng của chúng ta trong vương quyền đời đời và khiêm nhượng của Chúa Giêsu, và không trong sự thích nghi với những vương quyền chóng qua và những quyền lực hay thay đổi của từng thời đại.
Một nhân vật khác xuất hiện trong bài Phúc Âm, gần với Chúa Giêsu hơn, đó là người tội phạm cầu xin Người và thưa với Người rằng "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi" (c. 42). Con người này, chỉ cần nhìn thấy Chúa Giêsu, đã tin vào sự hiển trị của Người. Anh ta không khép lòng mình lại, mà, với những sai lầm, những tội lỗi và những khốn khó của mình, đã cất tiếng thưa với Chúa Giêsu. Anh ta cầu xin Người hãy nhớ đến anh ta và đã được trải nghiệm lòng thương xót của Thiên Chúa : "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng" (c. 43). Thiên Chúa nhớ đến chúng ta khi mà chúng ta để cho Người cái cơ hội đó. Người sẵn sàng xóa bỏ hoàn toàn và mãi mãi tội lỗi, bởi vì trí nhớ của Người không lưu giữ điều ác đã phạm và mãi mãi không tính đến những điều chúng ta xúc phạm đến Người, khác với ký ức của chúng ta. Thiên Chúa không nhớ đến tội lỗi, nhưng nhớ đến chúng ta, đến mỗi người chúng ta, các con cái thân yêu của Người. Và Người tin rằng, chúng ta luôn có thể bắt đầu trở lại, có thể đứng lên trở lại.
Chúng ta cũng vậy, chúng ta hãy cầu xin ơn của ký ức cởi mở và sống động này. Chúng ta hãy cầu xin ơn đừng bao giờ đóng cửa hòa giải và tha thứ, mà biết vượt lên trên điều ác và những bất đồng, mở tung ra mọi con đường hy vọng. Cũng như Thiên Chúa tin tưởng nơi chúng ta, vượt xa vô cùng những công trạng của chúng ta, chúng ta cũng được kêu gọi hãy lan tỏa niềm hy vọng và cho kẻ khác cơ hội của họ. Bởi vì, dù rằng Cửa Thánh đã đóng, cánh cửa đích thực của lòng thương xót vẫn luôn rộng mở cho chúng ta, đó là Thánh Tâm Đức Kitô. Từ bên ngực bị đâm thủng của Chúa Phục Sinh tuôn chảy ra cho đến ngày tận thế, lòng thương xót, sự an ủi và niềm hy vọng.
Nhiều khách hành hương đã bước qua các Cửa Thánh và, bỏ ngoài tai những lời ong tiếng ve, đã nếm trải lòng nhân từ vĩ đại của Chúa. Chúng ta hãy tạ ơn vì điều này và chúng ta hãy nhớ rằng chúng ta đã được ban cho lòng thương xót để chúng ta mặc lấy những tinh thần lòng thương xót, để cũng trở thành những khí cụ của lòng thương xót. Chúng ta hãy cùng nhau tiếp tục con đường của chúng ta. Cầu xin Đức Trinh Nữ đồng hành với chúng ta, Mẹ cũng đã đứng dưới chân Thánh Giá, Mẹ đã sinh ra chúng ta nơi đó như bà Mẹ dịu hiền của Giáo Hội đang mong muốn đón lấy tất cả chúng ta dưới tà áo của Mẹ. Dưới chân Thánh Giá Mẹ đã thấy người trộm lành nhận được sự tha thứ và Mẹ đã nhận người môn đệ của Chúa Giêsu làm con của Mẹ. Mẹ là Bà Mẹ của lòng thương xót nơi chúng ta phó thác : mọi hoàn cảnh, mọi kinh cầu, được dâng lên trước mắt đầy thương xót của Mẹ sẽ không bao giờ là không có cầu trả lời.
Mai Khôi dịch
https://fr.zenit.org/articles/le-christ-roi-par-la-seule-toute-puissance-de-lamour/


 

Mẹ Têrêxa thành Calcutta:
"Vị thánh toàn hảo cho Năm Thánh Lòng Thương Xót"
Trình bầy về lễ tuyên phong hiển thánh tại Vatican(toàn văn)


Trình bầy về lễ Tuyên phong Hiển Thánh cho Mẹ Têrêxa tại Vatican

Mẹ Têrêxa thành Calcutta (1910-1997) và vị nữ thánh toàn hảo cho Năm Thánh Lòng Thương Xót". Đó là điều đã được nhấn mạnh trong buổi họp báo đã diễn ra tại Văn Phòng Báo Chí Tòa Thánh, ngày 02/9/2016, hai ngày trước lễ phong thánh.
Trưóc một cử tọa các nhà báo, Sơ Mary Prema Pierick, Bề Trên Tổng Quyền dòng Các Nữ Tu Thừa Sai Bác Ái, đã nhớ tới "nụ cười" của Mẹ Trêxa như là "món quà tốt đẹp nhất của Mẹ dâng Chúa Giêsu và ban cho tất cả chúng ta". Khi nhìn thấy "nụ cười" đó, "người ta không còn u buồn trong lòng và hiểu rõ niềm vui và hy vọng toát ra từ một trái tim yêu mến Chúa", Sơ nhấn mạnh. 
Là vị Bề Trên thứ ba của hội dòng sau Mẹ Têrêxa sáng lập và Sơ Nirmala, Sơ Mary Prema Pietrick đã giải thích rằng vị thánh tương lai đã không tìm cách "giải quyết tất cả mọi vấn đề của Calcutta", mà Mẹ chỉ cúi lo cho "những vấn đề cá nhân" của người ta. Mẹ đã giúp đỡ họ thay đổi tâm tư và mời gọi dân chúng hãy tham gia vào công việc của Mẹ, bằng cách "giao cho họ trách nhiệm".
Nhắc tới "đức vâng phục" của Mẹ Têrêxa, nhất là đối với các bác sĩ, bà nữ tu người Đức được bầu làm Bề Trên năm 2009 đã gợi nhớ rằng kể cả trong những ngày cuối đời, vị sáng lập dòng đã luôn là người đầu tiên tới nhà nguyện để đọc kinh sáng. Mẹ Têrêxa "không hề làm bất cứ chuyện gì để ràng buộc người ta vào với Mẹ", bề trên nói, mà Mẹ luôn luôn hành động để dẫn đưa người khác đến với Đức Kitô.
Mẹ Têrêxa, Sơ Mary Prema Pietrick nói tiếp, vừa là "Mẹ" vừa là "thầy giảng dạy". Mẹ chia sẻ mọi thứ với các chị em, từ chối mọi sự đối xử dành cho Mẹ khác với chị em khác.
Calcutta ở khắp mọi nơi
Cha Brian Kolodiejchuk, Bề Trên Tổng Quyền các Cha Thừa Sai Bác Ái, khẳng định rằng Mẹ Têrêxa là "vị thánh toàn hảo cho Năm Thánh Lòng Thương Xót". Với tư cách là người bảo vệ án phong thánh, ngài đã giải thích rằng vị thánh tương lai "luôn ý thức rằng mình cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa", và "sự khó nghèo của rỉêng mình".
Mẹ Têrêxa xác tín rằng "Calcutta ở khắp mọi nơi", trong mọi trái tim, dưới hình thức của sự khó nghèo trong lòng, vị linh mục người Canada giải thích. Người phụ nữ thường hay xưng tội và đã sống một đêm đức tin, đã có "một khả năng thương xót to lớn".
Bằng sự làm chứng cho lòng thương xót, "Mẹ Têrêxa là một vị thánh của tất cả mọi người, của cả người nghèo và người giầu, và của thời đại chúng ta, bị tàn phá bởi bao bạo lực và bao trái tim sỏi đá", cha Kolodiejchuk nói tiếp. Và vị bảo vệ án phong thánh đã xét rằng Mẹ Têrêxa có thể là thánh quan thầy các cặp vợ chồng có khó khăn thụ thai – sau khi Mẹ đã giúp cho rất nhiều cặp – và của những hành khách đi máy bay.
Sự nối dài của Phép Lạ
Trong cuộc họp báo, ông Marcilio Haddad Andrino, được chữa lành cách lạ lùng bởi sự chuyển cầu của chân phước Têrêxa năm 2008 đã làm chứng về câu chuyện của ông.  Ông người Brazil này bị nhiều áp-xe (ung nhọt) não, đã được lành bệnh một cách không giải thích được, sau khi nhận được một di vật của Mẹ Têrêxa.
Sau khi được chữa lành một cách lạ lùng, các bác sĩ đã thông báo cho ông Marcilio và vợ ong là bà Fernanda Nascimento Rocha rằng sau những vấn đề đó về sức khỏe, hai vợ chồng, theo thống kê, chỉ có dưới 1% khả năng có con. Nhưng hai vợ chồng đã có hai đứa con, mà ông Marcilio Haddad Andrino coi như một "sự nối dài của phép lạ"
Trước các phóng viên, ông đoan chắc rằng ông không hề cảm thấy mình "đặc biệt" hơn người khác : "Thiên Chúa giầu lòng thương xót  và đoái nhìn tất cả mọi người".
Mai Khôi phỏng dịch
https://fr.zenit.org/articles/mere-teresa-la-sainte-parfaite-pour-lannee-de-la-misericorde/

 

 

Lễ Đức Mẹ hồn xác lên Trời :
Thiên Chúa cúi xuống những kẻ khiêm nhường để nâng họ lên cao
Kinh Truyền Tin ngày 15 tháng 8 năm 2016 (toàn văn)

15 AOÛT 2016 - RÉDACTION - ANGÉLUS ET REGINA CAELIPAPE FRANÇOIS

 

"Đức Mẹ Mông Triệu Thăng Thiên là một mầu nhiệm cao cả liên quan đến mỗi người chúng ta, liên quan đến tương lai chúng ta", Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã giải thích trong giờ Kinh Truyền Tin ngày 15/8/2016, trên quảng trường Thánh Phêrô. Một mầu nhiệm trong đó "Chúa cúi xuống những kẻ khiêm nhường để nâng họ lên cao".
Lời Đức Giáo Hoàng trước Kinh Truyền Tin
Thân chào quý anh chị em !
Hôm nay, bài Phúc Âm (Lc 1, 39-56) của Lể Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, mô tả cuộc gặp gỡ giữa Đức Mẹ Maria và bà chị họ của Mẹ là bà Elisabeth, nhấn mạnh rằng "Bà Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa" (c. 39). Trong những ngày đó, Đức Maria chạy tới một thành phố nhỏ lân cận Giêrusalem để gặp bà Elisabeth. Hôm nay, chúng ta ngắm Mẹ trên hành trình của Mẹ tới Giêrusalem trên trời, để cuối cùng gặp được Thánh Nhan Chúa Cha và thấy lại thánh nhan Con Giêsu của Mẹ. Trong suốt cuộc đời dưới thế của Mẹ, biết bao lần Mẹ đã ngược xuôi những vùng núi non hiểm trở, đến tận chặng cuối cùng đau khổ trên đồi Calvê, kết hợp với mầu nhiệm khổ hình của Chúa Kitô. Bây giờ chúng ta thấy Mẹ đã tới ngọn núi Thiên Chúa, "mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao" như đã kể trong Sách Khải Huyền (Kh 12, 1) và chúng ta thấy Mẹ bước qua ngưỡng cửa quê trời. 
Mẹ đã là người đầu tiên tin vào Con của Thiên Chúa, là cũng là người đầu tiên trong chúng ta được nâng lên trời với cả linh hồn và thân xác. Mẹ là người đầu tiên đã ôm Chúa Giêsu trong vòng tay khi Người còn thơ dại, và Mẹ cũng là người đầu tiên được đón nhận trong vòng tay của Người để đưa vào Nước Trời vĩnh cửu của Chúa Cha. Đức Maria, cô thôn nữ khiêm nhường đơn sơ của một ngôi làng lẩn khuất trong vùng ngoại vi của đế quốc, bởi vì Mẹ đã đón nhận và sống Phúc Âm, Mẹ đã được Thiên Chúa chấp nhận cho ở bên Con Người đời đời bất tận. Chính như thế mà Chúa đã lật đổ những kẻ quyền thế xuống khỏi ngai bệ của chúng và nâng cao những kẻ khiêm nhường (x. Lc 1, 52).
Đức Maria hồn xác lên trời là một mầu nhiệm cao cả liên quan đến mỗi người chúng ta, liên quan đến tương lai chúng ta. Đức Maria, quả thật, đã đi trước chúng ta trên hành trình mà những ai đã dấn thân, qua Phép Rửa, gắn liền cuôc sống của mình với Chúa Giêsu, như Đức Maria đã gắn liền đời sống của Mẹ với Người. Ngày lễ hôm nay khiến cho chúng ta ngước mắt lên Trời, ngày lễ hôm nay loan báo "những vòm trời mới và đất mới", với chiến thắng của Đức Kitô phục sinh trên sự chết và sự bại trận vĩnh viễn của ác thần. Bởi thế, sự hân hoan của cô gái khiêm nhường xứ Galilê, được biểu lộ trong bài ca Magnificat, trở thành bài hát của cả nhân loại, sung sướng thấy được Chúa cúi xuống trên mọi con người nam nữ, những tạo vật khiêm hạ để nâng họ lên cao và điều này, chúng ta đã nghe trong kinh Magnificat, trong bài tụng ca của Đức Maria.
Bài ca chúc tụng của Đức Maria khiến chúng ta nghĩ tới biết bao những tình trạng đau thương hiện tại, đặc biệt tới những phụ nữ bị dầy vò vì gánh nặng cuộc đời và vì thảm trạng của bạo lực, tới những phụ nữ nô lệ sự lợi dụng của những kẻ quyền thế, tới những bé nữ bị ép buộc làm những công việc vô nhân đạo, tới những phụ nữ bị bắt buộc hiến dâng thân xác và tinh thần cho sự lợi dụng của đàn ông. Mong rằng một cuộc sống bình an, công bằng, yêu thương, có thể bắt đầu cho những người này ngay khi có thể được, trong sự chờ đợi cái ngày mà cuối cùng, họ cảm thấy được nắm tay bởi những bàn tay không làm nhục họ, mà với sự dịu hiền nâng đỡ họ lên và dẫn đưa họ lên đến tận trời. Đức Maria, một người phụ nữ, một cô gái đã chu đau khổ trong cuộc đời mình, làm cho chúng ta liên tưởng tới những người phụ nữ kia đang đau khổ rất nhiều. Chúng ta hãy cầu xin Chúa đích thân nắm lấy tay họ để dẫn dắt họ trên con đường của sự sống và giải thoát họ ra khỏi cảnh nô lệ này.
Và bây giờ, chúng ta hãy tin tưởng hướng về Mẹ Maria, Nữ Vương Thiên Đàng hiền dịu, và cầu xin Mẹ : "Xin Mẹ ban cho chúng con những ngày bình an, xin Mẹ để mắt dõi theo con đường chúng con đi, xin cho chúng con thấy được Con của Mẹ, đầy niềm vui trên Trời".
Bản dịch tiếng Pháp : Anne Kurian (Zenit)
Mạc Khải phỏng dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit
https://fr.zenit.org/articles/assomption-dieu-se-penche-sur-les-humbles-pour-les-elever/

 

Cầu nguyện giúp tin tưởng vào Thiên Chúa
"Thiên Chúa đầy lòng thương xót"

25 MAI 2016 - CONSTANCE ROQUES - AUDIENCE GÉNÉRALE

Kinh Truyền Tin ngày 22 tháng 5 năm 2016
"Cầu nguyện không phải là chiếc đũa thần", Đức Giáo Hoàng Phanxicô giải thích : cầu nguyện "giúp giữ gìn lòng tin vào Thiên Chúa, giúp chúng ta phó thác nơi Người, kể cả khi chúng ta không hiểu được thánh ý của Người".
Đức Giáo Hoàng đã dành Bài giáo lý thứ 20 của ngài về lòng thương xót trong Tân Ước, hôm thứ tư 25/5/2016 trên quảng trường Thánh Phêrô -, đề tài "Cầu nguyện và lòng thương xót"; ngài đã bình giảng về dụ ngôn bá góa quấy rầy và quan tòa bất chính, được kể lại bởi thánh sử gia Luca (x. LC 18, 1-8).
Không có cầu nguyện, "đức tin chao đảo", Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh. "Chúng ta hãy cầu xin Chúa một đức tin làm bằng cầu nguyện liên lỉ và kiên trì để trải nghiệm "lòng thương cảm của Thiên Chúa, như một người Cha, đến gặp gỡ con cái mình, lòng đầy tình yêu thương xót". 
Sau đây là bản dịch toàn văn Bài giáo lý bằng tiếng Ý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.
C.R.
Bài giáo lý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô
Thân chào quý anh chị em !
Bài dụ ngôn trong Phúc Âm chúng ta vừa nghe (x. Lc 18,1-8) chứa đựng một giáo huấn quan trọng : "Sự cần thiết phải luôn cầu nguyện" (c. 1). Không phải là thỉnh thoảng mới cầu nguyện, khi mình nghĩ tới. Không, Chúa Giêsu phán, phải "cầu nguyện luôn, không được nản chí". Và Người đã nêu tấm gương bà góa và ông quan tòa.
Ông quan tòa là một người quyền thế, được cử ra để tuyên án trên cơ sở lề luật Mô-sê. Vì vậy truyền thống Thánh Kinh nhắn nhủ các quan tòa phải là những người kính sợ Thiên Chúa, đáng tin cậy, công minh và không ham của bất chính (x; Xh 18, 21). Trái lại, ông quan tòa này "chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì" (c. 2). Đó là một ông quan tòa bất công, bất chính, không đếm xỉa gì tới lề luật mà chỉ làm điều gì ông ta muốn, theo lợi ích cá nhân của ông ta. Một bà góa tới xin ông xử kiện cho bà. Các bà góa, cũng như các cô nhi và người khách lạ, đều là những loại người yếu đuối nhất trong xã hội. Các quyền mà luật pháp ban cho họ có thể dễ dàng bị chà đạp, bởi vì họ là những kẻ thân cô, thế cô và không ai bênh vực, họ khó có thể khiến người khác thừa nhận : một bà góa nghèo hèn đứng đó, một mình, không có ai bênh vực, người ta có thể phớt lờ bà ta, kể cả không thèm xét xử cho bà. Và cũng như vậy, đứa trẻ mồ côi , người khách lạ, người di dân : ở thời đại đó, vấn đề này cũng đã rất là hiện hữu. Trước sự vô cảm của ông quan tòa, bà góa chỉ có vũ khí duy nhất của bà : tiếp tục khẩn khoản quấy rầy ông ta và đưa đơn kêu oan. Và chính vì tính kiên trì của mình, bà ta đã đạt được mục đích. Ông quan tòa, đến môt mức độ nào đó, quả đã nhận lời bà ta, không phải vì thương xót bà ta, hay vì lương tâm cắn rứt, mà đơn giản chỉ là ông ta thừa nhận rằng :"vì mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc" (c. 5).
Chúa Giêsu đã rút ra từ dụ ngôn này 2 kết luận : nếu bà góa đã có thể khuất phục ông quan tòa bất lương với những thỉnh cầu, huống hồ với Thiên Chúa, là một người Cha nhân lành và công chính, sẽ "minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người" và hơn nữa, Người không bắt họ "chờ đợi mãi", mà Người sẽ hành động "mau chóng" (c. 7-8) 
Vì thế, Chúa Giêsu khuyên dạy phải "không ngừng cầu nguyện". Chúng ta đều cảm thấy có những lúc mệt mỏi và chán nản, nhất là khi những lời cầu nguyện của chúng ta có vẻ như vô hiệu quả. Nhưng Chúa Giêsu cam kết với chúng ta : khác với ông quan tòa bất lương, Thiên Chúa mau chóng nhậm lời con cái Người, tuy rằng điều đó không có nghĩa là Người thực hiện trong thời gian hay theo phương cách mà chúng ta kỳ vọng. Cầu nguyện không phải là cây đữa thần ! Cầu nguyện giúp cho gìn giữ lòng tin vào Thiên Chúa, giúp cho chúng ta phó thác cho Người, kể cả những khi chúng ta không hiểu được Thánh Ý của Người. Về chuyện này, chính Chúa Giêsu - Người cầu nguyện nhiều ! – là tấm gương cho chúng ta. Thư gửi tín hữu Do Thái nhắc rằng "Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời vì có lòng tôn kính" (Dt 5, 7).
Mới đọc qua, sự khẳng định này có vẻ như khó tin, bởi vì Chúa Giêsu đã chết trên cây thập tự giá. Và tuy thế, Thư gửi tín hữu Do Thái đã không viết sai : Thiên Chúa đã thực sự cứu Chúa Giêsu khỏi chết và ban cho Người một sự chiến thắng vẹn toàn trên cái chết, nhưng con đường để đạt tới chiến thắng lại phải đi qua chính cái chết. Thư gửi tín hữu Do Thái đã dựa vào lời cầu khẩn Thiên Chúa đã khấng nhậm, đưa ta trở về lúc Chúa Giêsu cầu nguyện trong vườn Gethsémani. Bị tấn công bởi nỗi lo sợ lớn lao, Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha cất đi chén đắng khổ nạn của Người, nhưng lời nguyện của Người chứa đầy lòng tin tưởng vào Cha Người và Người đã phó dâng tất cả cho Thánh Ý Cha : "Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha" (Mt 26, 39).
Mục đích của cầu nguyện lùi ra phía sau; điều quan trọng hơn cả là mối quan hệ với Chúa Cha.  Đó là tác dụng của cầu nguyện : cầu nguyện biến ước muốn và uốn nắn nó theo thánh ý của Thiên Chúa, dù cầu xin gì đi nữa, bởi vì người cầu nguyện, trước hết mong muốn hợp nhất với Thiên Chúa, vốn là tình yêu thương xót.
Dụ ngôn kết thúc bởi một câu hỏi : Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?" (c. 8). Và với câu hỏi này, chúng ta dểu được khuyến cáo : chúng ta không được bỏ cầu nguyện dù cho không có đáp trả. Chính cầu nguyện gìn giữ đức tin, không có cầu nguyện, đức tin chao đảo ! Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho một đức tin luôn biết cầu nguyện liên lỉ, kiên trì, như lời cầu xin của bà góa trong dụ ngôn, một đức tin được nuôi dưỡng bởi ước mong Chúa đến. Và trong cầu nguyện, chúng ta trải nghiệm lòng thương cảm của Thiên Chúa là Đấng, như người Cha, đến gặp gỡ con cái Người, lòng đầy tình yêu thương xót.
Bản dịch tiếng Pháp : Constance Roques (Zenit)
Mạc Khải phỏng dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit
https://fr.zenit.org/articles/la-priere-aide-a-conserver-la-foi-en-dieu/

 

 

 

___________________________

<< Trang trước: =