CURSILLO VIETNAM AU CHAU

Trở về Trang Chính
dangchua.html

SỨ ĐIỆP MÙA CHAY NĂM 2020
CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

Lúc 11h30 sáng thứ Hai 24/02 giờ Roma, Đức Thánh Cha đã cho công bố sứ điệp Mùa Chay năm 2020, hai ngày trước thứ Tư Lễ Tro.
“Nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa.” (2Cr 5,20)
Anh chị em thân mến!
Năm nay, một lần nữa, Chúa ban cho chúng ta một thời gian thuận tiện để chuẩn bị cử hành, với trái tim được canh tân, Mầu nhiệm vĩ đại về sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu, là mấu chốt đời sống Kitô hữu với tư cách cá nhân cũng như cộng đoàn. Tâm trí chúng ta phải không ngừng trở về với mầu nhiệm này, vì nó không ngừng lớn lên trong chúng ta theo mức độ chúng ta mở lòng ra với sự năng động thiêng liêng của nó và bằng sự đáp trả cách tự do và quảng đại.
1. Mầu nhiệm phục sinh, nền tảng của sự hoán cải
Niềm vui của người Kitô hữu xuất phát từ việc lắng nghe và đón nhận Tin Mừng về sự chết và sống lại của Chúa Giêsu: keryma. Keryma này tóm gọn mầu nhiệm của một tình yêu “chân thực và cụ thể đến nỗi nó mời gọi chúng ta đi vào một mối tương quan cởi mở và cuộc đối thoại đầy chân thành và hữu hiệu” (Tông huấn Christus vivit, 117). Bất cứ ai tin vào lời loan báo này thì loại bỏ sự dối trá cho rằng sự sống của chúng ta bắt nguồn từ chính chúng ta, trong khi thực tế là nó xuất phát từ tình yêu của Chúa Cha, từ ý muốn của Ngài ban cho chúng ta sự sống tràn đầy (x. Ga 10,20). Ngược lại, nếu chúng ta lắng nghe tiếng nói dụ dỗ của “cha kẻ dối trá” (x. Ga 8,45), chúng ta có nguy cơ chìm trong vực thẳm vô nghĩa, khi trải nghiệm địa ngục ngay ở đây trên trái đất, như chúng ta chứng kiến nhiều biến cố bi thảm trong kinh nghiệm cá nhân và tập thể của con người.
Trong Mùa Chay năm 2020 này, tôi muốn chia sẻ với mọi Kitô hữu những điều tôi đã viết cho các bạn trẻ trong Tông huấn Christus vivit – Đức Kitô sống: “Hãy chăm chú nhìn vào đôi tay dang rộng của Đức Kitô chịu đóng đinh, hãy cho phép mình được cứu, hết lần này đến lần khác, mãi mãi. Và khi các con đi xưng thú tội lỗi của mình, hãy vững tin vào lòng thương xót của Chúa, vốn có sức giải thoát các con khỏi ách tội lỗi. Hãy chiêm ngắm máu Người đổ ra với tình yêu lớn lao như thế, và hãy để cho mình được tẩy sạch bởi máu ấy. Bằng cách này, các con có thể được tái sinh không ngừng và luôn luôn mới mẻ” (số 123). Phục sinh của Chúa Giêsu không phải là một sự kiện của quá khứ; nhưng nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, nó luôn luôn hiện tại và cho phép chúng ta ngắm nhìn và bằng đức tin, chạm vào xác thịt của Chúa Kitô nơi những người đau khổ.
2. Sự cấp thiết hoán cải
Thật tốt khi chiêm ngắm cách sâu sắc hơn mầu nhiệm phục sinh mà qua đó lòng thương xót của Thiên Chúa được ban cho chúng ta. Thật vậy, kinh nghiệm về lòng thương xót chỉ có thể trong mối tương quan “diện đối diện” với Chúa bị đóng đinh và sống lại, “Đấng đã yêu thương tôi và hiến mình vì tôi” (Gl 2,20), trong một cuộc đối thoại chân thành giữa những người bạn. Đó là lý do tại sao lời cầu nguyện rất quan trọng trong thời gian Mùa Chay. Thậm chí còn hơn là một nghĩa vụ, cầu nguyện diễn tả nhu cầu của chúng ta trong việc đáp lại tình yêu Thiên Chúa, vốn luôn đi bước trước và trợ giúp chúng ta. Kitô hữu cầu nguyện với ý thức rằng, dù không xứng đáng, chúng ta vẫn được yêu thương. Lời cầu nguyện có thể thực hiện dưới những hình thức khác nhau, nhưng điều thật sự có giá trị trong mắt Thiên Chúa chính là điều ẩn sâu bên trong chúng ta, bào mỏng sự cứng lòng của chúng ta, để hoán cải chúng ta quay về với Thiên Chúa và với thánh ý Ngài hoàn toàn hơn.
Do đó, trong thời gian thuận tiện này, chúng ta hãy để mình được hướng dẫn như Israel trong xa mạc (Hs 2,16), để cuối cùng chúng ta có thể nghe tiếng nói của vị Hôn phu của chúng ta và để nó vang vọng sâu sắc hơn trong chúng ta. Càng gắn bó với Lời Ngài, chúng ta càng cảm nghiệm hơn lòng thương xót Ngài ban cho chúng ta cách nhưng không. Chúng ta đừng để cho thời gian ân sủng này trôi qua cách vô ích, trong ảo tưởng khờ dại rằng chúng ta có thể kiểm soát thời gian và cách thế chúng ta hoán cải trở về với Ngài.
3. Ý muốn mãnh liệt của Thiên Chúa đối thoại với con cái Ngài
Việc Chúa một lần nữa cho chúng ta thời gian thuận tiện để hoán cải không bao giờ được xem là điều hiển nhiên. Cơ hội mới này phải khơi dậy nơi chúng ta ý thức biết ơn và đánh thức chúng ta từ sự mê ngủ của mình. Mặc dù đôi khi có sự hiện diện bi thảm của sự ác trong cuộc sống chúng ta, cũng như trong đời sống của Giáo hội và thế giới, cơ hội này được ban để chúng ta thay đổi cuộc sống cho thấy ý muốn nhân hậu của Thiên Chúa, không cắt ngang cuộc đối thoại cứu độ với chúng ta. Trong Chúa Kitô chịu đóng đinh, “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta” (2 Cr 5,21), ý muốn cứu độ này đã khiến Chúa Cha đổ xuống trên Con của Ngài tất cả tội lỗi chúng ta, như cách diễn tả của Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI: “đặt Thiên Chúa chống lại Thiên Chúa”, (x. Deus caritas est, 12). Vì Thiên Chúa cũng yêu thương kẻ thù của Ngài (x. Mt 5,43-48).
Cuộc đối thoại mà Thiên Chúa muốn thiết lập với mỗi chúng ta qua mầu nhiệm Vượt qua của Con Ngài không giống như điều đã xảy ra với cư dân thành Athens, những người “chỉ để thời giờ bàn tán hay nghe những chuyện mới nhất. (Cv 17,21). Việc tán gẫu như vậy, được lôi kéo bởi sự tò mò trống rỗng và hời hợt, là đặc trưng cho tính thế gian của mọi thời đại; trong thời đại của chúng ta, nó cũng có thể dẫn đến việc sử dụng phương tiện truyền thông không đúng cách.
4. Một sự giàu có để chia sẻ, không để dành riêng cho mình
Đặt mầu nhiệm vượt qua ở trung tâm cuộc sống của chúng ta có nghĩa là cảm thấy trắc ẩn, thương cảm đối với vết thương của Chúa Kitô bị đóng đinh nơi nhiều nạn nhân vô tội của các cuộc chiến tranh, trong các cuộc tấn công vào sự sống, từ sự sống của người chưa được sinh ra đến sự sống của người già và các hình thức bạo lực khác nhau. Chúng cũng có trong các thảm họa môi trường, sự phân phối không đồng đều các tài nguyên của trái đất, nạn buôn người dưới mọi hình thức và ước muốn không cùng về lợi nhuận, một hình thức thờ ngẫu tượng.
Ngày nay cũng cần phải kêu gọi những người nam nữ có thiện chí chia sẻ, bằng cách chia sẻ của cải của họ với những người thiếu thốn, như một cách thế tham gia của cá nhân vào việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Việc chia sẻ bác ái giúp con người trở nên người hơn, trong khi việc tích trữ có nguy cơ làm xấu đi tính người, bị giam cầm bởi sự ích kỷ của chính mình. Chúng ta có thể và phải đi xa hơn nữa, và xem xét các khía cạnh cấu trúc của kinh tế. Vì lý do này, vào giữa Mùa Chay năm nay, từ 26 đến 28 tháng 3, tôi đã triệu tập một cuộc họp ở Assisi với các nhà kinh tế, doanh nhân trẻ và những người tạo ra thay đổi, với mục đích định hình một nền kinh tế công bằng và bao gồm hơn. Như giáo huấn của Giáo hội thường lặp đi lặp lại, đời sống chính trị đại diện cho một hình thức bác ái trổi vượt (x. Pius XI, Bài nói chuyện với liên đoàn sinh viên Đại học Công giáo Ý, 18 tháng 12 năm 1927). Điều tương tự cũng đúng đối với đời sống kinh tế, là điều có thể được tiếp cận với cùng tinh thần Tin Mừng, đó là tinh thần của các Mối Phúc.
Tôi cầu xin Mẹ Maria chí thánh cầu bầu để việc cử hành Mùa Chay của chúng ta giúp chúng ta mở trái tim để lắng nghe lời Thiên Chúa mời chúng ta hòa giải với Ngài, chiêm ngắm mầu nhiệm phục sinh và được hoán cải trước một cuộc đối thoại cởi mở và chân thành với Ngài. Bằng cách này, chúng ta sẽ trở nên như Chúa Kitô yêu cầu các môn đệ của Ngài: muối đất và ánh sáng thế gian (x. Mt 5,13-14).
Phanxicô, Giáo hoàng
Roma, tại Đền thờ thánh Gioan Laterano

 

 

THE MUSICAL BELL
(Cái Chuông Nhạc)


Ông Pappy là chủ một cửa tiệm bán đồ cổ. Ðã từ lâu, ông giữ kín một nỗi buồn riêng.
Một hôm, trong lúc đang lau chùi cái đèn lồng để chuẩn bị giao cho khách hàng, bỗng ông nghe tiếng nhạc của cái chuông treo ở cửa tiệm. Ông thích điệu nhạc của nó và muốn chia sẻ với khách hàng nên đã treo nó lên.
Ban đầu ông không nhìn thấy ai, mãi một lúc sau mới có một mái tóc gợn sóng mềm mại nhô lên ở trước quầy hàng. Ðó là một cô bé xinh xắn dễ thương hãy còn nhỏ xíu.
"Ông giúp được gì cháu đây, hở cháu bé?", ông Pappy cảm thấy lòng vui hẳn lên.
"Thưa ông", cô bé ngước cặp mắt màu nâu lên nhìn ông. “Cháu muốn mua một món quà cho ông cháu.”.
Ông Pappy gợi ý: "Ông cháu có thích đồng hồ bỏ túi không. Ông có một cái hãy còn mới, tốt lắm.".
Cô bé không trả lời. Nó đi quanh phòng rồi tới bên cánh cửa đưa bàn tay nhỏ bé cầm lấy tay nắm. Nó lắc nhẹ cánh cửa để nghe tiếng nhạc vang lên. Mặt cô bé chợt bừng sáng, nó nói: “Chính là cái này đây. Mẹ cháu nói ông cháu thích âm nhạc lắm.”.
Ông Pappy khựng lại. Ông không muốn làm cô bé thất vọng nhưng đành phải nói: "Xin lỗi cháu! Ông không bán cái chuông này được. Hay cháu lấy cái hộp đồ chơi này cho ông cháu, chắc ông cháu thích vì nó cũng phát ra nhạc.".
Cô bé nhìn cái hộp rồi lắc đầu.
"Chắc là không đâu ạ!", cô bé buồn bã trả lời.
Ðể cho cô bé hiểu và khỏi buồn, ông kể cho nó nghe là con gái của ông từng chơi cái chuông này và vì vậy ông không muốn bán.
Cô bé tỏ vẻ xúc động, mắt rưng rưng và nói "Cháu hiểu rồi, ông ạ. Cháu cảm ơn ông!".
Trong giây lát ông Pappy chợt nghĩ tới gia đình mình. Vợ ông mất đã lâu. Con gái ông sau một lần giận gia đình đã bỏ đi nước ngoài sinh sống. Ðã mười năm trôi qua, ông không được tin tức gì của cô con gái.
Rồi ông tự nhủ, con gái ông đã bỏ đi vậy sao ông không để cái chuông cho người khác, một người có thể chia sẻ nó với những người mà họ thương yêu?
"Khoan đã, cháu ạ!', ông kêu lên với cô bé lúc nó mở cửa và tiếng nhạc lại vang ngân. Ông bằng lòng bán cái chuông. Cháu đừng buồn nữa nha.
Cô bé vui mừng vỗ tay reo: "Ôi, cháu cảm ơn ông!".
"Ðược rồi!", ông Pappy cũng cảm thấy vui vui trong lòng dù biết rồi đây mình sẽ nhớ cái chuông lắm. "Nhưng ông bảo này, cháu phải hứa là giữ gìn cái chuông cẩn thận.". Rồi ông lấy cái chuông xuống, lau chùi sạch bụi và cho vào một cái túi giấy, trao vào tay cô bé.
"Cháu xin hứa!", cô bé nói.
Nhưng chợt nó nhìn ông Pappy, ánh mắt lo lắng.
"Nhưng ông ơi, giá của cái chuông này là bao nhiêu vậy?", cô bé hỏi.
"Vậy cháu có bao nhiêu tiền nào?", ông Pappy hỏi, với nụ cười tinh nghịch.
Cô bé chỉ có trong tay 2 đô la 47 xu. Nhìn thấy vậy, ông Pappy nói như reo: "Chà chà, cháu thiệt là may mắn. Giá của cái chuông đó vừa đúng 2 đô la 47 xu.".
Cô bé đi rồi, ông Pappy cứ ngẩn ngơ suốt buổi. Ông nhớ cái chuông và điệu nhạc của nó. Cho tới giờ chuẩn bị đóng cửa, bỗng ông lại nghe tiếng chuông ngân nga. Ông cho rằng mình tưởng tượng, nhưng nhìn ra cửa ông thấy cô bé lúc sáng lại xuất hiện. Cô bé đang cầm cái chuông lắc lắc, miệng mỉm cười.
"Gì thế này? Cháu đổi ý rồi sao?", ông ngạc nhiên.
"Không ạ!", cô bé vừa nói vừa cười. Mẹ cháu bảo cái chuông này là dành cho ông.".
Trước khi ông Pappy kịp nói thêm lời nào thì mẹ cô bé bước vào. Mắt cô đẫm lệ và cô nhìn ông nói: "Con chào bố!".
Còn cô bé thì kéo nhẹ gấu áo ông: "Ông ơi, khăn tay đây, ông lau mắt đi"
(Sưu Tầm)

TÔ MÌ CỦA NGƯỜI KHÔNG QUEN BIẾT

Image associée

Tối hôm đó Sue cãi nhau với mẹ, cô đùng đùng ra khỏi nhà. Trong lúc đang trên đường, cô mới nhớ ra rằng mình chẳng có đồng bạc nào trong túi, thậm chí không có đủ mấy xu để gọi điện về nhà.
Cùng lúc đó cô đi qua một quán mì, mùi thơm bốc lên ngào ngạt làm cô chợt cảm thấy đói da diết. Cô thèm một tô mì lắm nhưng lại không có tiền!
Người bán mì thấy cô đứng tần ngần trước quấy hàng bèn hỏi: “Này cô bé, cô có muốn ăn một tô không?” Cô thẹn thùng trả lời: “Nhưng… nhưng cháu không mang theo tiền…” Người bán nói: “Ðược rồi, tôi sẽ đãi cô. Vào đây, tôi nấu cho cô một tô mì.”
Mấy phút sau ông chủ quán bưng tới cho cô một tô mì bốc khói. Ngồi ăn được mấy miếng, Sue bật khóc. Ông chủ hỏi: “Có chuyện gì vậy?” – “Dạ, không có gì, tại cháu cảm động quá!” Sue vừa nói vừa lấy tay quẹt nước mắt.
Cô bé thổn thức nói thêm: “Thậm chí một người không quen ngoài đường như chú còn cho cháu được một tô mì, còn mẹ cháu, đã đuổi cháu ra khỏi nhà chỉ vì cháu cãi mẹ cháu mấy câu. Chú là người lạ mà còn tỏ ra quan tâm đến cháu, còn mẹ cháu… “bả” ác độc quá, chú thấy không?”
Nghe Sue nói, ông chủ quán thở dài: “Này cô bé, sao cháu lại nghĩ như vậy? Hãy suy nghĩ lại đi, chú mới chỉ đãi cháu được một tô mì mà cháu cảm động như vậy, còn mẹ cháu đã nuôi cháu từ khi cháu còn nhỏ xíu, sao cháu không biết ơn mà lại còn dám cãi lời mẹ nữa?”
Sue giật mình xúc động khi nghe điều đó. Tại sao mình lại không nghĩ ra nhỉ? Một tô mì của người lạ mà mình cảm thấy mang ơn, còn mẹ mình đã nuôi mình hàng bao năm qua mà thậm chí mình chưa bao giờ tỏ ra quan tâm đến mẹ dù chỉ một chút. Mà chỉ vì chuyện nhỏ mình lại cự cãi với mẹ…
Trên đường về, cô thầm nghĩ trong đầu những điều cô sẽ nói với mẹ: “Mẹ ơi, con xin lỗi. Con biết đó là lỗi của con, xin mẹ tha thứ cho con…”
Khi bước về đến thềm nhà, Sue nhìn thấy mẹ đang lo lắng và mệt mỏi vì đã tìm kiếm con gái khắp nơi. Nhìn thấy Sue, mẹ cô nói: “Sue, vào nhà đi con. Chắc con đói bụng lắm rồi phải không? Cơm nước mẹ nấu xong rồi, vào nhà ăn ngay cho nóng…” Không thể kìm giữ được nữa, Sue òa khóc trong vòng tay mẹ.

Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta dễ cảm kích với những hành động nhỏ mà một số người chung quanh làm cho chúng ta, nhưng đối với những người thân thuộc, nhất là cha mẹ, chúng ta lại xem sự hi sinh của họ như chuyện đương nhiên… Tình yêu và sự quan tâm lo lắng của cha mẹ là món quá quý giá nhất mà chúng ta được tặng từ khi mới chào đời.
Cha mẹ không mong đợi chúng ta trả công nuôi dưỡng nhưng…… liệu có bao giờ chúng ta quý trọng sự hy sinh vô điều kiện này của cha mẹ chúng ta chưa ?


Tác giả KHUYẾT DANH
bản phỏng dịch của Bích Ngọc

TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN DƯỚI NHÃN QUAN KITÔ GIÁO
Tiến sỹ Trần Mỹ Duyệt
Bác sỹ Lương Huỳnh Ngân

Image associée

VÀO ĐỀ:
Tình yêu, hôn nhân và gia đình vốn dĩ là một kho tàng ân phúc mà Thượng Đế đã ban cho nhân loại. Giáo Hội Công Giáo không ngừng đề cao những giá trị cao quí của ơn gọi Hôn Nhân Gia Đình. Tuy nhiên, trước những vong thân về luân lý, đạo đức của con người thời đại, Tình Yêu, Hôn Nhân, Gia Đình đang bị lợi dụng, cắt nghĩa một cách lệch lạc nên đã dẫn đến sự đổ vỡ từ nền tảng của đời sống tình yêu, tình cảm và xã hội, mà hệ quả của nó là ly thân, ly dị, trai gái sống chung không cần hôn nhân, và con cái thiếu sự hướng dẫn của cha mẹ. Hậu quả của xã hội còn đi xa hơn nữa trong những phong trào bình quyền, đồng tính, hôn nhân đồng tính… Rất tiếc, nhiều Kitô hữu ngày nay cũng đang bị cuốn hút vào những trào lưu của xã hội này. 
Chúng tôi không dám nghĩ đến việc thay đổi lối nhìn, quan niệm, và nhịp sống hiện tại. Nhưng với một thao thức chân thành, chúng tôi mong đóng góp những suy tư nhỏ để như một ngọn nến  thắp sáng lên trong bóng tối tư tưởng qua loạt bài TÌNH YÊU, HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH, hy vọng qua đó góp phần nhỏ trong cộng việc phục hồi lại những giá trị và vẻ đẹp của tình yêu, hôn nhân, và gia đình.  Và chúng tôi cũng rất mong sự đóng góp từ phía độc giả, những người đang có cùng một ưu tư như chúng tôi.

TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN
Lương Huỳnh Ngân

Vẻ đẹp của tình lứa đôi nhân loại từ ngàn năm luôn được ca ngợi. Sách Cách Ngôn  kể sự kết hợp vợ chồng như bốn kỳ công khó hiểu được.
18 Có ba điều quá kỳ diệu đối với tôi, và bốn chuyện tôi không sao hiểu nổi, 
19 đó là đường diều hâu bay lượn trên trời, đường rắn bò trên đá, đường thuyền bè đi lại giữa biển khơi, và đường của chàng thanh niên tìm đến cô thiếu nữ. (Cn 30 : 18-19)
Thật vậy, làm sao con diều hâu to lớn có thể lượn bay trên trời ; làm sao con rắn không chân mà biết bò ; làm sao con tàu giữ không chìm trên nước và nhất là đôi nam nữ sanh ra do một giây lát của dục vọng lại được gọi sống bền lâu ?Tất cả thi văn vũ trụ đều ca ngợi  huyền nhiệm đó. Thánh Kinh còn đem lại nét đặc biệt : Tình yêu của loài người được trình bày với một chiều sâu chưa từng có, vì đó là hình ảnh của Tình Yêu « Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ » ( St 1 : 27)
I - GÓC NHÌN THIÊNG LIÊNG  TÂM LINH:
Có nhiều tài liệu, tác giả là những tín hữu sống hạnh phúc ơn gọi giáo dân trong đời sống hôn nhân, được Giáo Hội khuyến khích phổ biến. Sau đây xin trích ba tài liệu và trong tệp đính kèm bài viết Lý Do Sinh Lý của Tiến Sỹ Trần Mỹ Duyệt,(www.giadinhnazareth.org)  liên quan đến chủ đề mà chúng tôi đang bàn tới.
1- Trích sách Khôn Ngoan :
25 Nếu như Ngài không muốn, làm sao một vật tồn tại nổi ?
 Nếu như Ngài không cho hiện hữu, làm sao nó có thể được duy trì? (Kn 11: 25)
Thật vậy, sự ham muốn và khóai lạc người phụ nữ vẫn tồn tại nhiều năm sau khi đã tắt kinh không còn có thể thụ thai nữa. Tính dục ấy không hẳn chỉ phục vụ sinh sản duy trì sự sống.
Đọc câu sách Khôn Ngoan hình như nghe vẳng đâu đây tiếng vang bài thơ Sáng Thế tuyệt vời, trong chương đầu Sách Thánh được lặp đi lặp lại như một điệp khúc: «Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.» (St 1: 10). Từ đầu đến cuối, bài thơ Sáng Thế quả quyết rằng Thiên Chúa yêu thương tạo vật của Ngài.
2- Trích CẨM NANG HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH  của  D. WAHRHEIT do Lm. Minh Anh (Gp. Huế) chuyển ngữ 2009:
1.  …tất cả mọi biểu lộ của tình yêu vợ chồng sẽ dẫn tới sự kết hợp nên một thân xác giữa hai người, tức hành động giao hợp. Đó là dấu chứng cao cả nhất của tình yêu Thiên Chúa. Bàn đến một nền tu đức đặc biệt cho các đôi vợ chồng, thiết tưởng chúng ta không thể không nói đến giá trị nội tại của hành động này. Một cái nhìn lành mạnh và thánh thiện về hành động giao hợp là điều mà chúng tôi cố gắng trình bày trong bài này.
2. Để có được cái nhìn lành mạnh và thánh thiện trên đây, thiết tưởng chúng ta cần đọc lại số 49 trong Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng của Công Đồng Vaticanô II:
“Là một hành động có đặc tính nhân linh cao cả vì từ một nhân vị này hướng tới một nhân vị khác bằng một tình cảm tự ý, tình yêu vợ chồng bao gồm hạnh phúc toàn diện của con người. Vì thế, tình yêu vợ chồng có thể lồng vào những biểu lộ của thân xác và tâm hồn một giá trị đặc biệt khiến chúng trở nên cao quí như những yếu tố và dấu hiệu đặc thù của tình yêu lứa đôi. Một tình yêu kết hợp yếu tố nhân loại với yếu tố thần linh như thế phải thấm nhuần cả đời sống, và hướng dẫn đôi vợ chồng biết tự do trao hiến cho nhau qua những tâm tình và cử chỉ yêu mến. Hơn nữa chính nhờ những hành vi quảng đại của mình mà tình yêu giữa hai người được trọn vẹn và lớn lên. Sự âu yếm trên được biểu lộ và hoàn hảo một cách đặc biệt qua những động tác riêng của bậc hôn nhân.

Bởi vậy, những hành vi thực hiện sự kết hợp thân mật và thanh khiết của đôi vợ chồng thật là cao quí và chính đáng. Việc thực hiện chúng một cách xứng với con người, những hành vi ấy biểu lộ và khích lệ sự trao hiến cho nhau, nhờ đó hai người làm cho nhau thêm phong phú trong hoan lạc và biết ơn”.

Những dòng trên đây của Công Đồng thực là một bài ca về hành động giao hợp trong đời sống vợ chồng. Trước kia hành động ấy bị xem như một hành động thấp hèn không xứng với phẩm giá con người, một hành động mà có lẽ Giáo Hội chỉ cho phép làm để xoa dịu cơn đói khát tình dục và truyền sự sống mà thôi. Với Công Đồng Vaticanô II, động tác ấy không chỉ được khuyến khích mà còn được xem như một nghĩa vụ giúp hoàn thiện hoá hai vợ chồng. 
3- Trích sách TÁI KHÁM PHÁ ĐẠO CÔNG GIÁO  Cẩm Nang Để Sống Đạo Say Mê và Hiệu Quả » của Matthew Kelly do Đại Chủng Viện Bùi Chu chuyển ngữ.
«  …Sống thánh thiện phù hợp với mọi bậc sống. Những người lập gia đình cũng được mời gọi sống đời sống thánh thiện chẳng khác gì các nam nữ tu sỹ. Sự thân mật giới tính là một quà tặng sâu sắc phát xuất từ Thiên Chúa và là một phương tiện của sự thánh thiện. Tài sản của thế giới này chỉ đạt giá trị tối đa khi chúng giúp ta chu toàn mục đích thiết yếu này. »
Sau khi chúng ta nhìn qua góc thiêng liêng của sự giao hợp hai vợ chồng, chúng ta cùng tìm hiểu 2 điều :
Thứ nhất những lý do gì giúp hai vợ chồng chung thuỷ với nhau trọn đời như các bạn đã hứa trong ngày cử hành Bí Tích Hôn Phối.
Thứ hai những lý do gi có thể làm đổ vỡ tình lứa đôi.
II - LÀM THẾ NÀO SỐNG BỀN ĐỖ. ĐỂ CHUNG THỦY ?
Nếu thử tìm hiểu những lý do gì, những bí quyết nào có thể giúp cho đời sống vợ chồng bền đỗ ? : Mỗi người chúng ta có thể kê ra một danh sách nhiều các lý do này nọ. Xin nêu lên nơi đây hai điều có thể là chính yếu. Đối Thoại Thật Tình Với Nhau  
Tại Pháp có tờ nhật báo Công Giáo La Croix (Thánh Giá)  - đã thực hiện năm nọ làm một loạt phỏng vấn toàn quốc các cặp vợ chồng hơn 80 tuổi sống qua một hôn nhân, không bao giờ ly dị. Các bài rất thú vị làm báo bán rất chạy trong một tuần lễ.
Kết luận được rút ra từ cuộc phỏng vấn ấy có một lý do nổi bật hơn hết, được sắp hàng đầu làm cho các cụ còn sống hài hoà ấm cúng cho đến tuổi này là có đối thoại thật tình với nhau. Từ chuyện nhỏ đến chuyên quan trọng, tế nhị hay chuyện thường trong đời sống hằng ngày.
Kết quả thứ hai của cuộc thống kê toàn nước Pháp, xác định một điều mọi người chờ đợi:  Hầu hết các cụ là những người Công Giáo giữ đạo. Xin nhắc lại là khi chọn các cặp để phỏng vấn không phân biệt tiêu chuẩn tôn giáo. Nhưng kết quả lại khi phỏng vấn cho thấy  các cặp này đại đa số là người Công Giáo có giữ đạo, tỷ số cao hơn nhiều so với các cặp khác hoặc không có đạo Công Giáo hoặc không giữ đạo.
Vợ chồng Đối thoại về giới tính ?

Qua trải kinh nghiệm của một Bác sỹ gia đình, theo tôi, có biết bao nhiêu gia đình Công Giáo cũng như không Công Giáo trải qua nhiều thử thách, nhiều đau khổ, ly thân, ly dị chung quanh vấn đề giới tính. Nếu ý thức còn dễ nhận diện, nhưng thường do thiếu ý thức, đã nảy sinh ra nhiều hội chứng thể lý và tâm lý phức tạp gây khó khăn cho chẩn đoán và chữa trị. Thật vậy, lý do giới tính hầu hết các vợ chồng không ý thức rõ ràng hay sai lầm và đó cũng là một nguyên do không đối thoại. Có lẽ các cặp vợ chồng trẻ cần tìm hiểu sự khác biệt về giới tính giữa người nữ và người nam.
Giới tính người vợ - người chồng hoạt động như thế nào ?

Câu trả lời trong đoạn sau đây được TS Trần Mỹ Duyệt (Nhóm Gia đình Nazareth USA) diễn tả rất đẹp trong bài  Lý Do Sinh Lý Quan Trọng Đối Với Chồng Bạn.  (www.giadinhnazareth.org)
«  Ta có thể so sánh sự khác biệt về nhu cầu sinh lý giữa người nam và người nữ như sự khác biệt giữa giấm và dầu ăn được dùng trộn một đĩa salad. Hai gia vị này hoàn toàn khác nhau, mang những mùi vị và đặc tính khác nhau, chỉ duy một điều chúng giống nhau vì cả hai đều là chất lỏng, và cả hai đều cần thiết để làm nên một đĩa rau trộn. Dầu thì không mùi vị nhưng giấm thì chua chát. Dầu nhẹ nhàng, giấm ngửi là đã cảm thấy sắc bén như xé khứu giác. Ngay cả khi chúng được để chung trong một cái bình thì cả hai cũng sẽ đối chọi nhau, trừ khi chúng được lắc đều…
Trong tương quan sinh lý vợ chồng, hai ham muốn, hai cách diễn tả tình cảm giữa chồng và vợ cũng vậy. Chỉ khi hòa hợp trong yêu thương chúng mới mang lại ý nghĩa thật sự, nhưng rồi sau ái ân, bản chất của mỗi ham muốn và nhu cầu sinh lý ấy lại hiện nguyên hình giữa người chồng và người vợ, giữa người đàn ông và người đàn bà.

Những nhận xét về sinh lý và nhu cầu sinh lý này vẫn không thay đổi, và vì thế vợ chồng cần phải hiểu nhau hơn để yêu thương nhau với tâm hồn cảm thông. Chính do sự hiểu biết này cộng với hành động trong yêu thương, vợ chồng sẽ trao cho nhau cuộc đời mình và cùng nhau sóng bước trên hành trình hôn nhân hạnh phúc...

Thông thường đối với nữ giới, cách thức diễn tả hành động lãng mạn luôn xoay quanh những nhu cầu về tình cảm. Với những phụ nữ đã có gia đình thì thêm vào đó là khao khát một mối dây liên lạc mật thiết đối với chồng. Những đòi hỏi này tương tự như khi nàng mua vé du hành trên du thuyền. Nào là cuộc du hành ấy phải được ngắm cảnh bình minh hay hoàng hôn trên những vùng biển đẹp, thơ mộng. Nào là thưởng thức những bữa ăn ngon trong suốt cuộc hành trình, vui chơi, giải trí và tham dự những đêm văn nghệ nhớ đời. Trong khi người đàn ông cũng có những nhu cầu tình cảm, nhưng theo tiến sỹ Willard Harley trình bày trong tác phẩm Nhu cầu của chàng, nhu cầu của nàng (His Needs, Her Needs,) thì tuy mục tiêu tình cảm của người đàn ông cũng chủ tâm vào một kinh nghiệm rất riêng tư, nhưng căn bản vẫn là nhu cầu tình dục. »

Đặc biệt về giới tính người chồng, sai lầm thường mắc phải là tìm khoái lạc cho mình. Các BS chuyên khoa giới tính khuyến cáo, càng tìm kiếm càng mất đi phần nào cảm xúc nhận được trong giao hợp. Có vài trường hợp người đàn ông bị « panne » gọi là hội chứng «Ông Vua » : ban ngày cư xử như ông vua, có thói gia trưởng, lên giường cố tình cho xứng với vai của mình, càng cố ý càng thất bại. Đây cũng là trường hợp không hiếm dẫn đến ngoại tình.
Ngược lại, càng chủ tâm thể hiện tình yêu cho đi, tìm trao cho người bạn đời thì càng nhận được đáp trả tự nhiên bội lần, mang lại sự hài hòa đáng kinh ngạc. Một lần nữa, « công thức » yêu là cho đi, cũng chính xác trong cả gặp gỡ thân mật giới tính.
Đối Thoại Thật Tình Với Nhau là như thế nào, làm thế nào thực hiện được ? Những điều gì làm cản trỡ?

Phải thú thật người Âu Mỹ dễ cởi mở với nhau hơn so với người Việt chúng ta, nhất là các ông bà cha mẹ thế hệ trước, thế hệ các bạn trẻ ngày nay đã khác hơn nhiều.
Hẳn các bạn còn nhớ chuyện cổ tích được biết nhiều với tựa đề “Người Con Gái Nam Xương (Tên Vũ Nương)”, chuyện này được nhà danh sĩ thế kỷ XVI tên Nguyễn Dữ viết lại một truyện cổ tích dân gian có tên là  Vợ Chàng Trương :
Cuộc sống vợ chồng Vũ Nương và Trương Sinh diễn ra êm thấm chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải đi lính, còn lại Vũ Nương ở nhà chăm sóc đứa con nhỏ và mẹ chồng già.
Đã mấy thu qua không thấy chồng về, một mẹ một con mòn mỏi trông đợi. Hàng ngày chăm lo đồng áng, tối lại nàng mới có thì giờ chăm sóc cho con. Có những hôm phải chong đèn khâu vá dọn dẹp và nô đùa với con. Những lúc con khóc nàng thường chỉ vào bóng của mình trên vách mà bảo:  « Nín đi con ! Kìa, kìa bố đã về. Đấy! Đấy! » Đứa bé nhìn vào bóng, nín bặt. Cứ như thế lâu dần thành thói quen.
Nhưng khi Trương Sinh đi lính trở về thì mẹ chồng đã mất, đứa con không chịu nhận cha vì cha nó "Đêm nào cũng đến, mẹ Cháu đi cũng đi, mẹ Cháu ngồi cũng ngồi". Chàng Trương nghe con nói vậy ngờ vợ thất tiết đánh đuổi đi. Vũ Nương oan khuất, bị dồn vào đường cùng, nên gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn và được vợ vua Nam Hải cứu.v .v.
Thật vậy nhiều lúc chuyện nhỏ có thể đối thoại với nhau khi đôi bên có gì lấn cấn. Nhưng đứng trước một việc thật quan trọng thường có vẻ chần chừ rồi với thời gian lại chọn sự thinh lặng. Tự nhũ để xem ra sao, v v … ?  Lòng dần dần  bị chiếm hữu bởi những thành kiến, thường vô căn cứ làm cản trỡ mọi đối thoại tích cực thật sự hữu ích.
III - LÀM THẾ NÀO TRÁNH ĐỔ VỠ
Tránh Thành Kiến. Đối thoại với nhau như chúng ta vừa xem qua gắn liền với văn hóa, đạo cũng như đời. Có một lý do thứ hai có thể làm cản trở việc Đối Thoại Thật Tình Với Nhau đó là :
Thành Kiến. 

Ngoài  thành kiến sai lầm về giới tính chúng ta vừa xem đoạn trên. Sau đây qua  một ví dụ cụ thể, có lẽ quý bạn cỏ thể hiểu thêm thế nào là Thành kiến :
Một hôm người vợ chờ chồng đi làm về xin hỏi chồng trong bóp còn bao nhiêu tiền. Không để vợ dứt lời người chồng quát lên : Em không bao giờ tin ở anh, vợ chồng mà không tin nhau là như thế nào. Thế còn em có bao giờ v v… cơn giận càng làm anh lên giọng, thốt lên những lời xúc phạm, đến nỗi người vợ lại bị lây cơn giận trách lại những điều vừa bị xúc phạm. Thế là bầu khí  không còn gì là của một gia đình đầm ấm, hai đàng không nói gì nữa tới lý do nàng xin xem bóp chồng mà bắt tội về những lời xúc phạm, rồi lời qua tiếng lại …
Thật ra, các bạn biết bắt đầu vì sao không ?  Lý do đầu tiên là cô vợ vừa đến thăm mẹ chồng, lòng xót xa cho mẹ chồng vì bà cụ không bao giờ dám nói với ai chỉ tâm sự với nàng dâu yêu, rằng cái đệm cũ rich đã rách toang ra rồi làm cụ thường đau lưng. Cô dâu thương tình muốn mua một chiếc nệm mới vừa êm hơn vừa ít nóng vì trời độ này quá nóng bức, mà nàng không đủ tiền, muốn xem chồng còn tiền không để xin bù vào số tiền nàng có...
Ví dụ này có lẽ hơi quá đáng nhưng làm cho các bạn và tôi nhìn lại, nếu không để ý chúng ta cũng có lúc có những thành kiến, về người này, người khác và đã hành động đại loại như thế.
Chúng ta vừa nói qua vài điều cản trở sự, không  Đối Thoại Thật Tình với Nhau. Và nặng thành kiến.
Sùng đạo.

Các bạn hẳn còn nhớ lý do thứ hai của các gia đình các cụ trên 80 tuổi ở Pháp còn sống chung thuỷ với nhau là các cụ Công Giáo còn sống Đạo.
Chúng ta hãy cùng cảm tạ Chúa cho các bạn đã có một khí cụ trên hai rồi đó, để có thể sống hạnh phúc bên nhau! Chúng ta thử tìm hiểu vì sao người Công Giáo chúng ta có nhiều cơ may sống tình yêu lứa đôi lâu dài hơn người khác.
Các bạn đã học hỏi nhiều nơi các bậc phụ huynh và các vị hướng dẫn tinh thần, đặc biệt trong khoá Giáo Lý Hôn Nhân rồi, nên có lẽ không cần nói thêm. Lý do thường nêu ra là người CG không được ly dị và hy vọng các bạn dã biết và hiểu lý do vì sao Thiên Chúa và Giáo Hội không cho ly dị, xin chỉ nhắc lại một lý do có lẽ là lý do nền tảng : Đạo Công Giáo chúng ta là Đạo Tình Yêu. Chúa chúng ta là Chúa Tình Yêu. Ngài hy sinh chịu chết để cứu chuộc chúng ta cũng vì Tình Ngài Yêu chúng ta, để cứu độ chúng ta ngay khi chúng ta là kẻ tội lỗi, xúc phạm đến Ngài.
Điều vĩ đại nhất trong Tình Yêu ấy có lẽ là sự THA THỨ. Trước khi tắt thở trên Thánh Giá nói về các đao phủ, Ngài còn « xin Cha tha thứ cho họ vì họ không biết việc họ làm » (Lc 23 : 34)

 

LÝ DO SINH LÝ QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI CHỒNG BẠN
Trần Mỹ Duyệt

Sinh lý là một phần không thể tách rời trong đời sống hôn nhân đối với người chồng.
Nhiều người đàn ông, con trai thường thắc mắc và tự hỏi “những hành động lãng mạn đối với vợ, đối với người yêu là gì? Làm sao để thu hút, và hấp dẫn nàng?” Và câu trả lời có thể là: “Cùng với nàng nâng ly dưới ánh nến lung linh, đi ăn tối với nàng tại một quán ăn với không gian tình tứ, tặng nàng những nụ hôn nhẹ trên má, trên trán, trên môi, gọi hỏi thăm nàng, khen nàng đẹp và dễ thương, viết cho nàng những lá thư tình, nhẹ nhàng, âu yếm và sẵn sàng sóng bước bên nàng cho đến hết cuộc hành trình hôn nhân”. Tất cả những cái đó đều đúng, vì không phụ nữ nào mà không muốn người đàn ông của mình đối xử với mình như vậy.
Nhưng rồi đối với chàng thì sao? Là người yêu, người vợ bạn sẽ thu hút và hấp dẫn người đàn ông của mình như thế nào. Câu trả lời sẽ là: “Hãy ở trần đến bên chàng”.
Thông thường đối với nữ giới, cách thức diễn tả hành động lãng mạn luôn xoay quanh những như cầu về tình cảm. Với những phụ nữ đã có gia đình thì thêm vào đó là khao khát một mối dây liên lạc mật thiết đối với chồng. Những đòi hỏi này tương tự như khi nàng mua vé du hành trên du thuyền. Nào là cuộc du hành ấy phải được ngắm cảnh bình minh hay hoàng hôn trên những vùng biển đẹp, thơ mộng. Nào là thưởng thức những bữa ăn ngon trong suốt cuộc hành trình, vui chơi, giải trí và tham dự những đêm văn nghệ nhớ đời. Trong khi người đàn ông cũng có những nhu cầu tình cảm, nhưng theo tiến sỹ Willard Harley trình bày trong tác phẩm Nhu cầu của chàng, nhu cầu của nàng (His Needs, Her Needs,) thì tuy mục tiêu tình cảm của người đàn ông cũng chủ tâm vào một kinh nghiệm rất riêng tư, nhưng căn bản vẫn là nhu cầu tình dục.
Thiên Chúa đã tạo dựng người đàn ông và người đàn bà hết sức khác nhau. Một sự khác biệt mà chính cá nhân mỗi người cũng có thể cảm nhận được; đặc biệt, giữa những quan niệm căn bản về cách thức chiếm hữu tình cảm của nhau trong hôn nhân - người chồng tìm kiếm lãng mạn trên sự thỏa mãn tình dục, còn người vợ tình kiếm tình cảm theo sau những mối tương quan tình tứ giữa vợ chồng.
Để hiểu những khác biệt này, trước hết chúng ta phải khách quan trong cách tìm hiểu lẫn nhau. Thánh Kinh diễn tả sự hiểu biết này như một hành động thương cảm. Thư gửi cho giáo đoàn Côlôsê dạy chúng ta: “Hãy có lòng thương cảm” - “Put on a heart of compassion.” (3:12 NASB). Nó nói lên sự khéo léo, tế nhị, và nâng đỡ của người vợ đối với những đòi hỏi và thử thách về nhu cầu tình dục của người chồng. Nếu người vợ yêu chồng thì phải hiểu nhu cầu đó của chồng mình. Và để chứng tỏ hiểu chồng, người vợ phải giúp thỏa mãn nhu cầu sinh lý của chồng, vì đó là một hành động của tình yêu. Đó cũng là những gì cần thiết phải có trong hôn nhân: để hiểu và được hiểu bởi người phối ngẫu trong yêu thương.
Tóm lại, sự khác biệt về người nam và người nữ đã xuất hiện ngay từ trong ý định và sáng tạo của Thượng Đế. Hai chương đầu của sách Sáng Thế Ký đã diễn tả rất rõ, đó là cả hai đều được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa. Chỉ khi hai người hiểu thế nào Thiên Chúa đã dựng nên chồng nên vợ mình, lúc đó cả hai mới có thể hiểu về nhau đầy đủ hơn như một con người. Con người được “dựng nên một cách lạ lùng và kinh ngạc” - “fearfully and wonderfully made.” (Psalms 139:14 NKJV).
Con người nam tính của chồng cũng như con người nữ tính của vợ mà Thiên Chúa đã thực hiện trong hôn nhân chính là một tác phẩm tuyệt mỹ.
Nhu cầu sinh lý khác biệt
Khi Thiên Chúa tạo dựng người nữ, Ngài ban cho họ nhiều cách thế để cảm nghiệm và biểu tỏ về dục tính - nữ tính của nàng. Bởi vì nàng là đàn bà, nàng có thể giao hợp với chồng nàng. Thụ thai cũng chính là một cảm nghiệm về những điều kỳ lạ đang biến đổi làm nên một sự sống mới trong nàng. Chồng nàng chỉ có thể nhìn thấy và ngạc nhiên, nhưng không bao giờ hiểu được những gì đang đem lại một sự sống mới như vậy ảnh hưởng trên đời sống thể lý, tâm sinh lý của nàng như thế nào.
Sau khi đứa trẻ chào đời là thời gian nuôi nấng, bú mớm đứa trẻ mà ta gọi là “chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm” cũng chỉ có nàng mới hiểu, mới cảm một cách đầy đủ. Điều này chứng tỏ không bao giờ một người đàn ông, người cha có thể có một cảm giác như người phụ nữ, người mẹ. Đó cũng là một niềm vui nối dài của những giây phút ân ái vợ chồng của người phụ nữ.
Những kinh nghiệm mang thai, sinh con và nuôi con chính là những bằng chứng về tình dục của nữ giới. Nữ giới được tạo nên để nuôi dưỡng sự sống. Nó diễn tả một đặc tính di truyền của nữ tính, ngay cả khi người phụ nữ son sẻ hoặc không có con. Phụ nữ là những bảo mẫu được Thiên Chúa tạo thành cho nhân loại.
Ngược lại, tính dục của người đàn ông được diễn tả qua trao đổi tình dục. Dĩ nhiên, đó không phải là con đường duy nhất họ dùng để diễn tả giới tính của mình, nhưng việc ân ái với vợ chính là một hành động không thể phân chia trong đời sống đàn ông của họ. Nét đặc biệt về nam tính này là chủ điểm mà Thiên Chúa đã sáng tạo trong hành động với một người phụ nữ - là vợ của anh ta.
Tóm lại, nhu cầu sinh lý của người phụ nữ giúp bạn có thể giao hợp với chồng của bạn mà không cần phải chờ được kích thích. Người chồng của bạn thì không vậy. Và nó nói lên rằng hành động ái ân của chồng bạn sẽ không hoàn toàn trọn vẹn nếu không có sự tham dự của bạn.
Là người vợ, bạn cần nên hiểu điều này, đó là cám dỗ có thể không thỏa mãn đối với nhu cầu sinh lý (bao gồm nhu cầu được cảm thấy ham muốn của vợ) là một thách đố rất lớn đối với chồng của bạn. Ngoài kia đang có rất nhiều tiếng nói mời gọi chồng bạn, bao gồm nhiều hình thức như gái gọi, hoặc những chào mời trá hình bạn cần phải biết. Những hình thức này rất tinh vi và hấp dẫn.
Không chỉ với cái nhìn tự nhiên, những phân tích của tâm lý, hoặc những lời nhắc nhở về sự cám dỗ dục vọng đối với nam giới được nhắc đến trong sách Châm Ngôn (Proverbs), bạn còn có thể tìm thấy những hình ảnh này nhan nhản trong Thánh Kinh. Nào là Judad ngủ với con dâu vì nghĩ rằng cô ta là một gái điếm. Đavít với Bathsheba, Samson với Delilah, hoặc Amnon cưỡng hiếp Tamar). Trong khi chỉ có một trường hợp duy nhất đàn bà cố gắng cám dỗ đàn ông là trường hợp vợ của Potiphar cám dỗ Giuse. Như vậy, nhu cầu sinh lý và sự sa ngã về dục vọng đối với nam giới là những trường hợp hiển nhiên đến từ chính con người của nam giới.
Ta có thể so sánh sự khác biệt về nhu cầu sinh lý giữa người nam và người nữ như sự khác biệt giữa giấm và dầu ăn được dùng trộn một đĩa salad. Hai gia vị này toàn khác nhau, mang những mùi vị và đặc tính khác nhau, chỉ duy một điều chúng giống nhau vì cả hai đều là chất lỏng, và cả hai đều cần thiết để làm nên một đĩa rau trộn. Dầu thì không mùi vị nhưng giấm thì chua chát. Dầu nhẹ nhàng, giấm ngửi là đã cảm thấy sắc bén như xé khứu giác. Ngay cả khi chúng được để chung trong một cái bình thì cả hai cũng sẽ đối chọi nhau, trừ khi chúng được lắc đều.
Nhưng một cách thú vị là ngay sau khi lắc đều, nếu để lắng đọng lại thì cả hai lại giữ nguyên bản chất của chúng. Trong tương quan sinh lý vợ chồng, hai ham muốn, hai cách diễn tả tình cảm giữa chồng và vợ cũng vậy. Chỉ khi hòa hợp trong yêu thương chúng mới mang lại ý nghĩa thật sự, nhưng rồi sau ái ân, bản chất của mỗi ham muốn và nhu cầu sinh lý ấy lại hiện nguyên hình giữa người chồng và người vợ, giữa người đàn ông và người đàn bà. Những nhận xét về sinh lý và nhu cầu sinh lý này vẫn không thay đổi, và vì thế vợ chồng cần phải hiểu nhau hơn để yêu thương nhau với tâm hồn cảm thông. Chính do sự hiểu biết này cộng với hành động trong yêu thương, vợ chồng sẽ trao cho nhau cuộc đời mình và cùng nhau sóng bước trên hành trình hôn nhân hạnh phúc.
Tại sao lại khác biệt?
Có những người đàn bà đã hỏi tôi: “Phải chăng Thiên Chúa đã lầm?” Phải chăng Ngài không biết những xung khắc ấy nơi con cái của Ngài?
Hiểu được hay không hiểu được, chấp nhận hay từ chối sự khác biệt giữa người nam và người nữ, giữa vợ với chồng thì việc làm của Thiên Chúa qua tạo dựng vẫn luôn luôn “đúng” và “tốt đẹp”. Thiên Chúa không bao giờ lầm lẫn. Ngài luôn biết việc mình làm. Ngài dựng nên con người có nam và có nữ, để khi đã là vợ chồng, cả hai có thể hòa trộn những khác biệt ấy để dẫn đến một mục đích rất rõ ràng: “Cả hai nên một”. Và như Adong đã nói về Evà: “Đây là xương của xương tôi, và thịt của thịt tôi” (Gen 2:23).
Và Ngài đã làm thế vì bạn.

Ngài muốn qua hành động tạo dựng ấy, để khi nhìn lại mối giây liên kết giữa vợ chồng, bạn phải cảm tạ Ngài, vì Ngài đã tạo dựng nên bạn và chồng bạn. Từ cái nhìn đó, bạn nhận ra chồng bạn thật sự cần bạn, để bạn đón nhận những nhu cầu tình dục nơi chàng đối với bạn. Sự nối kết sinh lý đã trở nên một điểm chính giữ gìn mối giây hôn nhân của bạn - không chỉ là tình bạn hay một khế ước sống chung. Hành động tình dục giữa vợ chồng đem lại cho cả hai sự hiểu biết và thấu nhập, cũng như đón nhận nhau trong tầng sâu thẳm của thân xác và tâm hồn. Nó không giống như bất cứ mối giây liên hệ nào của con người. Người chồng và người vợ trong những phút giây ân ái mới thực sự cảm nhận điều này “trần truồng mà không hổ ngươi” (Gen 2:25), như Adong và Evà xưa trong vườn Diệu Quang.
Người ta bước vào hôn nhân không nguyên vì nhu cầu sinh lý, nhưng nếu việc làm quan trọng này không được thực hiện một cách ý thức và yêu thương giữa vợ chồng, thì con đường dẫn tới hạnh phúc đang gặp những hố sâu trước mặt.
Tóm lại, có bao giờ bạn cảm ơn Thiên Chúa về cách thức Ngài đã tạo dựng bạn và chồng bạn chưa? Xin nhắc lại, Thiên Chúa không bao giờ sai lầm, và việc cảm ơn Ngài về những gì Ngài đã làm cho bạn là bước đầu tiên để bạn cảm thấy bình an trong cuộc sống của mình. Làm vậy, Thiên Chúa sẽ ban cho bạn ơn để thay đổi những suy nghĩ của bạn.
Cám ơn Chúa là một việc làm mà bạn không bao giờ được quên lãng. Từ đó, bạn sẽ yêu chồng bạn mặc dù đôi lúc bạn cảm thấy như chán ngấy và hối hận vì sự hiện diện của người ấy trong cuộc đời của bạn. Tình yêu, căn bản là một đòi hỏi kiếm tìm điều thiện hảo cho người mình yêu. Là người vợ, bạn có thể dùng sức mạnh ấy như một tác động cảm thông, chia sẻ và sức sống nữ tính, hoặc bạn sẽ tự cô lập và trống vắng.
Bạn hãy đối diện với quyết tâm để yêu thương chồng bạn ngay hôm nay.

Chồng bạn sẽ không bao giờ là một người đàn ông Thiên Chúa tạo nên nếu bạn không định giá đúng mức nam tính của chàng, và nếu bạn không dám hy sinh cho nhu cầu sinh lý của chàng một cách lành mạnh. Bạn chính là dụng cụ tình yêu mà Thiên Chúa dùng để biến đổi tác phẩm của Ngài trở nên giá trị. Ban có toàn quyền xây dựng hoặc phá đổ bởi vì đàn ông không được sinh ra, nhưng họ được tạo dựng.

 

 

Cuộc Trở Lại của Thánh Phaolô
Bài Giáo Lý Của Đức Thánh Cha Bênêđictô XV

Image associée

Anh chị em thân mến,
Bài Giáo Lý hôm nay sẽ dành để nói về kinh nghiệm mà Thánh Phaolô đã cảm nhận được trên đường đi Đamascô, mà người ta thường gọi là cuộc trở lại của ngài. Chính trên đường đi Đamascô, trong ba mươi năm đầu của kỷ nguyên thứ nhất, và sau giai đoạn mà ngài đã khủng bố Hội Thánh, thì giây phút quyết định của đời Thánh Phaolô đã xảy ra. Nhiều người đã viết về giây phút ấy, và đương nhiên là theo nhiều quan điểm khác nhau. Sự thật là có một sự thay đổi toàn diện đã xảy ra lúc ấy, một thay đổi quan điểm hoàn toàn. Từ đó, một cách không ngờ, ngài đã bắt đầu coi tất cả những gì mà trước đây là lý tưởng cao quý nhất, hầu như là lý do sống còn của sự hiện hữu của ngài như “thiệt thòi” và “rác rưởi” (Phil. 3:7-8). Điều gì đã xảy ra ?
Về điểm này, chúng ta có hai nguồn tài liệu. Loại thứ nhất mà người ta biết đến nhiều nhất, là các câu chuyện do thủ bút của Thánh Luca, là người đã kể về biến cố này trong ba trường hợp trong sách Tông Đồ Công Vụ (Cv. 9:1-19; 22:3-21; 26:4- 23). Có lẽ các độc giả trung bình sẽ bị cám dỗ ngừng lại quá lâu ở một vài chi tiết nào đó, như ánh sáng từ trời, việc ngã xuống đất, tiếng nói gọi ngài, tình trạng bị mù mới, việc chữa lành cái gì giống như vảy rơi khỏi mắt ngài và ăn chay.
Tuy nhiên, tất cả những chi tiết này đều chỉ về một biến cố: là Đức Kitô Phục Sinh đã hiện ra trong một ánh sáng huy hoàng và nói với Saulô, biến đổi tư tưởng và chính cuộc đời của ngài. Ánh sáng của Đấng Phục Sinh đã làm cho ngài bị mù; nhưng cũng trình bày ra ngoài cho chúng ta thấy thực tại nội tâm của ngài, là sự mù quáng của ngài đối với chân lý, với ánh sáng, là Đức Kitô. Và sau đó câu trả lời “xin vâng” với Đức Kitô trong Phép Thánh Tẩy lại mở mắt ngài, và làm cho ngài thật sự nhìn thấy.
Trong Hội Thánh sơ khai, bí tích Thánh Tẩy cũng được gọi là “soi sáng” bởi vì bí tích này ban cho người ta ánh sáng, làm cho người ta thật sự nhìn thấy. Tất cả những gì được ám chỉ theo thần học cũng được thể hiện cách thể lý nơi Thánh Phaolô: Một khi bệnh mù nội tâm được chữa lành, ngài cũng được thấy rõ ràng. Vì thế, Thánh Phaolô không được biến đổi bởi một luồng tư tưởng, nhưng bởi một biến cố, bởi sự hiện diện không chống cự nổi của Đấng Phục Sinh, là Đấng mà ngài không bao giờ còn nghi ngờ nữa, bằng chứng của biến cố, của cuộc gặp gỡ này, thật quá mãnh liệt. Cuộc gặp gỡ ấy thay đổi cuộc đời Thánh Phaolô tận gốc. Trong tương quan này, người ta có thể và phải nói về một cuộc hoán cải. Cuộc gặp gỡ này là trung điểm của bài tường thuật của Thánh Luca, là người rất có thể đã dùng một câu chuyện chắc được bắt đầu từ cộng đồng Đamascô. Sắc thái địa phương gợi ra điều này qua sự hiện diện của Ananias và tên của cả con đường cũng như người chủ của ngôi nhà mà Thánh Phaolô đã ở (Cv. 9:11).
Loại nguồn tài liệu thứ nhì về cuộc trở lại là chính các Thư của Thánh Phaolô. Ngài đã không bao giờ nói về biến cố này cách chi tiết; cha nghĩ rằng ngài cho rằng mọi người đều biết những điều chính yếu của câu truyện của ngài. Tất cả đều biết rằng từ việc là một người bắt đạo, ngài biến đổi thành một Tông Đồ nhiệt thành của Đức Kitô. Và điều này không xảy ra sau một suy tư riêng của ngài, nhưng từ một biến cố mãnh liệt, từ một cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh. Mặc dầu không được nói đến cách chi tiết, nhưng ngài đã nói về biến quan trọng nhất này, đó là, ngài cũng là một chứng nhân cho sự sống lại của Chúa Giêsu, mặc khải mà ngài đã trực tiếp nhận được từ Chính Chúa Giêsu, cùng với sứ vụ làm Tông Đồ.
Văn từ rõ ràng nhất về phương diện này được tìm thấy trong bài tường thuật của ngài về điều gì là tâm điểm của lịch sử cứu độ: cái chết và sống lại của Chúa Giêsu và những cuộc hiện ra với các nhân chứng (1Cor. 15).
Bằng những lời của truyền thống rất cổ xưa, mà ngài cũng nhận được từ Hội Thánh ở Giêrusalem, ngài nói rằng Chúa Giêsu đã chịu đóng đinh và chết, và sau khi sống lại Người đã hiện ra trước hết với Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai, và sau đó với 500 anh em mà đến nay vẫn còn sống, rồi với Thánh Giacôbê, rồi với tất cả các tông đồ.
Và ngài thêm vào bài tường thuật mà ngài nhận được từ truyền thống rằng : “Sau cùng Người cũng đã hiện ra với tôi” (1 Cor 15:8). Như vậy ngài xác nhận rằng đó là nền tảng của việc tông đồ và đời sống mới của ngài. Cũng có những đoạn văn khác mà trong đó nhắc đến cùng một điều : “Đức Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người chúng tôi nhận được ân sủng và chức vụ Tông Đồ” (x. Rom 1:5); và ở chỗ khác : “Tôi đã chẳng thấy Chúa Giêsu, Chúa chúng ta sao?” (1 Cor 9:1), những lời mà ngài dùng để ám chỉ điều mà mọi người đều biết. Cuối cùng, chúng ta tìm thấy đoạn văn đầy đủ nhất trong Thư gửi tín hữu Galatê 1:15-17: “Nhưng khi Ðấng đã để tôi riêng ra ngay từ trong lòng mẹ, và đã gọi tôi bằng ân sủng của Ngài, đã vui lòng mặc khải Con của Ngài cho tôi, ngõ hầu tôi rao giảng về Người giữa các Dân Ngoại, tôi đã lập tức không bàn thảo với người phàm, tôi cũng không lên Giêrusalem để gặp các vị đã là Tông Ðồ trước tôi, nhưng tôi đã qua Arabia, rồi lại trở về Ðamascô”.Trong bài “tự bào chữa” này ngài đã nhấn mạnh cách quả quyết rằng ngài cũng là một nhân chứng thật của Đấng Phục Sinh, rằng ngài có một sứ vụ nhận được trực tiếp từ Đấng Phục Sinh.
Chúng ta có thể thấy rằng cả hai nguồn tài liệu, sách Tông Đồ Công Vụ và các Thư của Thánh Phaolô, đều đồng quy về một điểm căn bản: Đấng Phục Sinh đã nói với Thánh Phaolô, mời gọi ngài vào sứ vụ Tông Đồ, làm cho ngài thành một Tông Đồ thật, một nhân chứng cho việc sống lại, với một nhiệm vụ đặc biệt là công bố Tin Mừng cho Dân Ngoại, cho thế giới Hi-La. Và, đồng thời, Thánh Phaolô đã học rằng, mặc dù ngài có liên hệ ngay với Đấng Phục Sinh, ngài vẫn phải hiệp thông với Hội Thánh, được rửa tội, và sống hòa hợp với các Tông Đồ khác. Chỉ trong sự hiệp thông với mọi người này mà ngài sẽ có thể trở thành một Tông Đồ thật sự, như ngài đã viết rõ trong Thư Thứ Nhất gửi tín hữu Côrinthô : “Dù tôi hay các vị ấy, thì chúng tôi đều rao giảng như thế, và anh em đã tin như thế” (15:11). Chỉ có một tuyên ngôn về Đấng Phục Sinh, bởi vì chỉ có một Đức Kitô duy nhất.
Như chúng ta thấy trong những câu này, Thánh Phaolô không bao giờ cắt nghĩa giây phút ấy như một biến cố trở lại. Tại sao? Có nhiều giả thuyết, nhưng lý do thì thật hiển nhiên. Sự thay đổi này của cuộc đời ngài, sự biến đổi toàn thể con người của ngài không phải là kết quả của một tiến trình tâm lý, của một sự trưởng thành hoặc sự tiến hóa về trí tuệ và luân lý, nhưng đến từ bên ngoài: nó không phải là kết quả của suy nghĩ mà là của việc gặp gỡ Đức Chúa Giêsu Kitô. Theo nghĩa này thì nó không đơn thuần là một cuộc hoán cải, một sự trưởng thành của cái “tôi” của ngài, mà là chết và sống lại đối với chính ngài: một đời sống của ngài đã chết đi và một đời sống mới đã sinh ra với Đức Kitô Phục Sinh. Không có một cách nào khác có thể cắt nghĩa việc đổi mới này của Thánh Phaolô. Tất cả những phân tích về tâm lý không thể làm sáng tỏ hay giải quyết được vấn đề. Chỉ có một biến cố, cuộc gặp gỡ đầy nhiệt tình với Đức Kitô là chìa khóa để hiểu điều gì đã xảy ra: chết và sống lại, sự đổi mới do Đấng là người đã tỏ mình ra và nói với ngài. Chỉ trong nghĩa sâu xa hơn này mà chúng ta có thể và phải nói về hoán cải. Cuộc gặp gỡ này là một canh tân thật sự có thể thay đổi ngài mọi mặt. Giờ đây một người có thể nói rằng những gì trước đây là thiết yếu và căn bản đối với mình, bây giờ trở thành “rác rưởi” cho mình; không còn là “được” nữa mà là thua thiệt, bởi vỉ bây giờ chỉ có đời sống trong Đức Kitô mới là điều đáng kể. Tuy nhiên, chúng ta không được nghĩ rằng Thánh Phaolô mù quáng giam mình vào một biến cố.
Trên thực tế, điều trái ngược đã xảy ra, bởi vì Đức Kitô Phục Sinh là ánh sáng của chân lý, là ánh sáng của Chính Thiên Chúa. Điều này làm cho tâm hồn ngài trở nên đại lượng và mở ra cho tất cả mọi người. Vào giây phút ấy, ngài đã không mất những gì là chân thật và tốt lành trong cuộc đời ngài, trong di sản của ngài, nhưng ngài đã hiểu sự khôn ngoan, chân lý, và chiều sâu của Lề Luật và các ngôn sứ một cách mới mẻ; ngài đã chiếm hữu nó một cách mới. Đồng thời, lý trí của ngài mở ra đối với sự khôn ngoan của Dân Ngoại. Nhờ đã hết lòng mở chính mình ra cho Đức Kitô, ngài trở nên có khả năng tham gia vào các cuộc đối thoại rộng rãi hơn với mọi người, ngài làm cho mình trở nên mọi sự cho mọi người. Như thế ngài có thể trở thành Tông Đồ Dân Ngoại.
Bây giờ chúng ta hãy nhìn đến tình trạng của chúng ta. Điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta ? Nó có nghĩa rằng đối với chúng ta, Kitô giáo cũng không phải là một triết lý mới hay là một luân lý mới. Chúng ta chỉ là Kitô hữu nếu chúng ta gặp gỡ Đức Kitô. Đương nhiên là Người không tỏ Mình ra cho chúng ta một cách không thể cưỡng lại được và sáng lạng như Người đã tỏ ra cho Thánh Phaolô để làm cho ngài thành Tông Đồ Dân Ngoại. Tuy thế, chúng ta cũng có thể gặp gỡ Đức Kitô trong việc đọc Thánh Kinh, trong cầu nguyện, trong đời sống phụng vụ của Hội Thánh. Chúng ta có thể chạm đến Trái Tim Đức Kitô và cảm thấy Người chạm đến trái tim chúng ta. Chỉ trong liên hệ cá nhân này với Đức Kitô, chỉ trong cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh, mà chúng ta mới thật sự trở thành những Kitô hữu. Và bằng cách này, lý trí chúng ta mở ra, toàn thể sự khôn ngoan của Đức Kitô mở ra cùng với tất cả sự sung mãn và chân lý. Cho nên, chúng ta hãy cầu xin Chúa soi sáng cho chúng ta, để trong thế giới của chúng ta, Người sẽ ban cho chúng ta được gặp gỡ sự hiện diện của Người, và như thế ban cho chúng ta một đức tin sống động, một tâm hồn rộng mở, và một đức ái vĩ đại đối với mọi người, [một đức ái] có khả năng canh tân thế giới.
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
VietCatholic News (Thứ Sáu 05/09/2008) ■

 

 

Đức Mẹ Mông Triệu

Dormition nghĩa là "ngủ", tức là chết mà như ngủ. Đó là tên gọi của lễ Đức Mẹ mông triệu, hoặc Đức Mẹ lên trời. Các Kitô giáo Đông phương, cả Công giáo và Chính thống giáo, vẫn tiếp tục mừng kính lễ này ngày nay.
Công giáo Đông phương và Chính thống giáo Đông phương đều mừng kính lễ "Đức Mẹ ngủ" vào ngày 15-8 hàng năm.
Đức Mẹ lên trời vào cuối hành trình trần thế là một tín điều đã được xác quyết của Giáo hội Công giáo. Lễ Đức Mẹ lên trời, được cử hành vào ngày 15-8 hàng năm, là lễ rấ cổ xưa của Giáo hội Công giáo, được mừng kính toàn cầu từ thế kỷ VI. Lễ này tưởng niệm cái chết của Đức Maria và thân xác Mẹ về trời trước khi thi thể Mẹ bị hư hại – hưởng trước sự phục sinh của thân xác chúng ta vào thời sau cùng. Vì điều này nghĩa là việc Đức Mẹ bước vào đời sống vĩnh hằng, đó là điều quan trọng nhất của lễ Đức Mẹ mông triệu và là ngày lễ buộc.
Lễ này có nguồn gốc được cử hành ở Đông phương, nơi được coi là lễ Đức Mẹ ngủ (Feast of the Dormition). Tài liệu nói về việc thân xác Đức Mẹ lên trời có từ thế kỷ IV, đó là tài liệu "Falling Asleep of the Holy Mother of God" (Việc ngủ của Thánh Mẫu Thiên Chúa). Tài liệu này thuật lại bằng lời của tông đồ Gioan, người được Đức Kitô trao phó Mẹ Ngài, về cái chết, việc nằm trong mộ, và việc lên trời của Đức Mẹ. Truyền thống cho biết cái chết của Đức Mẹ xảy ra tại Giêrusalem hoặc Êphêsô, nơi thánh Gioan đã sinh sống.
Ngày 1-11-1950, ĐGH Piô XII, với quyền bất khả ngộ (papal infallibility), đã công bố "Munificentissimus Deus" rằng đây là tín điều của Giáo hội: "Mẹ Vô nhiễm của Thiên Chúa, Đức Trinh nữ Maria, đã hoàn tất hành trình trần thế, nên hồn xác Mẹ được vinh quang trên trời". Là tín điều, buộc mọi người Công giáo phải tin Đức Mẹ hồn xác lên trời, ai công khai không tin tín điều này là hoàn toàn xa rời đức tin Công giáo".
Khi Chính thống giáo Đông phương tin Đức Mẹ "ngủ" (Dormition), họ phản đối việc ĐGH xác quyết là tín điều, coi đó là không cần thiết, vì tin xác Đức Mẹ lên trời là giữ truyền thống có từ thời các thánh tông đồ – gọi là tông truyền (1 trong 4 điểm chính của Công giáo).
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Catholicism.about.com)

 

 

Trở về Trang Chính
dangchua.html